Thị trường tiền tệ tuần sau nghỉ Lễ (4 - 6/9):

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu, "thủng" mốc 25.000 VND/USD

Hồng Quyên
(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ Lễ 2/9, lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Số ngân hàng giảm lãi suất nhiều hơn số ngân hàng tăng lãi suất huy động cho thấy làn sóng tăng lãi suất đang chậm lại. Tuần qua, giá vàng SJC điều chỉnh giảm, trong khi đó, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại giảm sâu, thủng mốc 25.000 đồng/USD.
aa

Lãi suất huy động biến động trái chiều

Trong những ngày làm việc đầu tiên của tháng 9/2024, lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Ghi nhận thực tế cho thấy, số lượng các ngân hàng giảm lãi suất nhiều hơn số ngân hàng tăng lãi suất huy động. Điều này cho thấy làn sóng tăng lãi suất huy động đang chậm lại.

Áp lực tỷ giá hạ nhiệt khiến Ngân hàng Nhà nước hai lần hạ lãi suất tín phiếu và một lần hạ lãi suất trên thị trường mở trong tháng 8/2024. Nhờ vậy, lãi suất liên ngân hàng cũng bớt nóng. Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn hơn 4% thay vì mức xấp xỉ 5% cách đây một tháng. Thêm vào đó, tín dụng tuy phục hồi song mức độ vẫn còn chậm khiến làn sóng tăng lãi suất phần nào chững lại.

Ngày 5/9, Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) thông báo điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng tăng 0,2 - 0,4%/năm. Lãi suất huy động kỳ hạn từ 9 - 13 tháng tăng 0,3% - 0,6%/năm. Trong đó, lãi suất kỳ hạn 9 - 11 tháng tăng 0,6%/năm lên mức 5,5%/năm. Tăng mạnh nhất (tăng 0,8%/năm) là lãi suất huy động các kỳ hạn 18 - 36 tháng, lên mức 6%/năm. Đây là lần tăng lãi suất thứ 3 liên tiếp của Dong A Bank tính từ đầu tháng 8/2024.

Ở chiều ngược lại, đã có 2 ngân hàng giảm lãi suất huy động một số kỳ hạn, bao gồm OCB và ABBank. Cụ thể, lãi suất tiền gửi hai kỳ hạn 24 tháng và 36 tháng được OCB điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm so với tháng 8/2024.

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu,
Lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Ảnh: T.L

ABBank có mức giảm lãi suất mạnh hơn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn 7 - 8 tháng giảm 0,1%/năm, lãi suất huy động kỳ hạn 9 - 11 tháng giảm 0,3%/năm, lãi suất kỳ hạn 12 tháng giảm 0,4%. Báo cáo tài chính cho thấy, 6 tháng đầu năm, ABBank ghi nhận tín dụng tăng trưởng âm. Với việc giảm lãi suất lần thứ hai liên tiếp trong hơn 1 tháng qua, ABBank không còn là ngân hàng có mức lãi suất huy động tiền gửi cao nhất thị trường.

Hiện nay, mức lãi suất huy động đặc biệt được một số ngân hàng áp dụng trên thị trường dao động từ 7,5%/năm đến 9,5%/năm, song chỉ áp dụng với các khoản tiền gửi từ vài trăm đến hàng ngàn tỷ đồng.

Hiện, lãi suất huy động tiền gửi thông thường cao nhất (6 - 6,1%/năm) thuộc về các ngân hàng: Dong A Bank, HDBank, BVBank, NCB, BaoViet Bank, OceanBank, SHB, Saigonbank.

Trước đó, trong tháng 7/2024, có 20 ngân hàng tăng lãi suất huy động và trong tháng 8/2024 có 15 ngân hàng tăng lãi suất huy động. Một số ngân hàng tăng lãi suất 2 lần trong tháng.

Ngân hàng phải báo cáo danh sách tài khoản "đáng ngờ" hàng tháng

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán, có hiệu lực từ ngày 1/7.

Đáng chú ý, tại Điều 22 của Thông tư này, NHNN quy định rõ các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của khách hàng theo hướng dẫn của NHNN về thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Theo đó, các ngân hàng phải cung cấp danh sách theo yêu cầu của NHNN thông tin về các tài khoản có dấu hiệu gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Thời gian cung cấp chậm nhất vào ngày 10 hàng tháng.

Danh sách khách hàng cá nhân mở và sử dụng tài khoản thanh toán nghi ngờ liên quan giả mạo, gian lận, lừa đảo được ngân hàng cập nhật gồm mã khách hàng (CIF), số giấy tờ tùy thân, loại giấy tờ tùy thân, họ và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số tài khoản, ngày mở tài khoản, số điện thoại đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử, lý do nghi ngờ, trạng thái tài khoản và thông tin định danh duy nhất của thiết bị (địa chỉ MAC).

Việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng phương tiện điện tử theo hướng dẫn kỹ thuật kết nối của nhà điều hành.

Cùng với đó, phía nhà điều hành cũng đã xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi rỏ gian lận trong hoạt động thanh toán, gọi tắt là SIMO.

Hệ thống SIMO giúp kết nối các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán thông qua cả hai giao thức là portal và API với mục đích xây dựng 1 kho dữ liệu chung về tài khoản thanh toán có dấu hiệu nghi ngờ gian lận.

Không chỉ NHNN quản lý sát sao, hiện Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm công nghệ cao (A05) cũng đã triển khai giải pháp kết nối với các ngân hàng thương mại, các tổ chức trung gian thanh toán để thiết lập hệ thống thông tin kết nối trực tuyến.

Giá vàng SJC điều chỉnh giảm

Sau hơn hai tuần giữ ở mức 81 triệu đồng, biểu giá bán mỗi lượng vàng miếng SJC được thay đổi. Ngày 5/9, NHNN thông báo giá bán vàng miếng SJC trực tiếp cho 4 ngân hàng quốc doanh và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) ở mức 79,5 triệu đồng, giảm nửa triệu so với hôm trước. Theo quy định của NHNN, các đơn vị này được phép bán chênh tối đa 1 triệu đồng so với giá mua từ cơ quan quản lý.

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu,
Giá vàng điều chỉnh giảm. Ảnh: T.L

Như vậy, sau hơn hai tuần giữ ở mức 81 triệu đồng, biểu giá bán mỗi lượng vàng miếng của SJC đã được thay đổi. Cụ thể, giá mỗi lượng vàng miếng thương hiệu SJC lùi về 80,5 triệu đồng. Ở chiều mua vào, giá vàng miếng SJC giảm tương đương, xuống 78,5 triệu đồng. Trong khi đó, giá bán vàng nhẫn giữ ở mức 77,4 – 78,6 triệu đồng/lượng mua vào – bán ra tương đương với tuần trước đó.

Tỷ giá ngân hàng trượt sâu, “thủng” mốc 25.000 VND/USD

Tuần qua ghi nhận tỷ giá tiếp tục giảm nhẹ, tỷ giá trung tâm đầu tuần được NHNN công bố ở mức 24.224 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tỷ giá trung tâm tuy có tín hiệu tăng nhẹ vào giữa tuần, nhưng sau đó lại giảm vào những ngày cuối tuần, với tỷ giá công bố hôm thứ Sáu là 24.222 đồng/USD, giảm 2 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra của Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.030 đồng/USD, không đổi so với hôm thứ Sáu tuần trước. Diễn biến tỷ giá bán ra của ngân hàng này tuần qua ghi nhận sự đi ngang vào những ngày đầu tuần, sau đó giảm mạnh vào cuối tuần, ghi nhận 24.925 đồng/USD vào hôm thứ Sáu, giảm 105 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tính từ đầu tháng 8 đến nay, giá USD tại các ngân hàng đã giảm hơn 500 đồng, tương đương mức giảm gần 2%./.

Chỉ số DXY biến động nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 6/9 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101 điểm, xấp xỉ mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Hồng Quyên

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80