Thị trường tiền tệ tuần sau nghỉ Lễ (4 - 6/9):

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu, "thủng" mốc 25.000 VND/USD

Hồng Quyên
(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ Lễ 2/9, lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Số ngân hàng giảm lãi suất nhiều hơn số ngân hàng tăng lãi suất huy động cho thấy làn sóng tăng lãi suất đang chậm lại. Tuần qua, giá vàng SJC điều chỉnh giảm, trong khi đó, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại giảm sâu, thủng mốc 25.000 đồng/USD.
aa

Lãi suất huy động biến động trái chiều

Trong những ngày làm việc đầu tiên của tháng 9/2024, lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Ghi nhận thực tế cho thấy, số lượng các ngân hàng giảm lãi suất nhiều hơn số ngân hàng tăng lãi suất huy động. Điều này cho thấy làn sóng tăng lãi suất huy động đang chậm lại.

Áp lực tỷ giá hạ nhiệt khiến Ngân hàng Nhà nước hai lần hạ lãi suất tín phiếu và một lần hạ lãi suất trên thị trường mở trong tháng 8/2024. Nhờ vậy, lãi suất liên ngân hàng cũng bớt nóng. Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn hơn 4% thay vì mức xấp xỉ 5% cách đây một tháng. Thêm vào đó, tín dụng tuy phục hồi song mức độ vẫn còn chậm khiến làn sóng tăng lãi suất phần nào chững lại.

Ngày 5/9, Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) thông báo điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng tăng 0,2 - 0,4%/năm. Lãi suất huy động kỳ hạn từ 9 - 13 tháng tăng 0,3% - 0,6%/năm. Trong đó, lãi suất kỳ hạn 9 - 11 tháng tăng 0,6%/năm lên mức 5,5%/năm. Tăng mạnh nhất (tăng 0,8%/năm) là lãi suất huy động các kỳ hạn 18 - 36 tháng, lên mức 6%/năm. Đây là lần tăng lãi suất thứ 3 liên tiếp của Dong A Bank tính từ đầu tháng 8/2024.

Ở chiều ngược lại, đã có 2 ngân hàng giảm lãi suất huy động một số kỳ hạn, bao gồm OCB và ABBank. Cụ thể, lãi suất tiền gửi hai kỳ hạn 24 tháng và 36 tháng được OCB điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm so với tháng 8/2024.

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu,
Lãi suất huy động ghi nhận sự biến động trái chiều. Ảnh: T.L

ABBank có mức giảm lãi suất mạnh hơn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn 7 - 8 tháng giảm 0,1%/năm, lãi suất huy động kỳ hạn 9 - 11 tháng giảm 0,3%/năm, lãi suất kỳ hạn 12 tháng giảm 0,4%. Báo cáo tài chính cho thấy, 6 tháng đầu năm, ABBank ghi nhận tín dụng tăng trưởng âm. Với việc giảm lãi suất lần thứ hai liên tiếp trong hơn 1 tháng qua, ABBank không còn là ngân hàng có mức lãi suất huy động tiền gửi cao nhất thị trường.

Hiện nay, mức lãi suất huy động đặc biệt được một số ngân hàng áp dụng trên thị trường dao động từ 7,5%/năm đến 9,5%/năm, song chỉ áp dụng với các khoản tiền gửi từ vài trăm đến hàng ngàn tỷ đồng.

Hiện, lãi suất huy động tiền gửi thông thường cao nhất (6 - 6,1%/năm) thuộc về các ngân hàng: Dong A Bank, HDBank, BVBank, NCB, BaoViet Bank, OceanBank, SHB, Saigonbank.

Trước đó, trong tháng 7/2024, có 20 ngân hàng tăng lãi suất huy động và trong tháng 8/2024 có 15 ngân hàng tăng lãi suất huy động. Một số ngân hàng tăng lãi suất 2 lần trong tháng.

Ngân hàng phải báo cáo danh sách tài khoản "đáng ngờ" hàng tháng

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán, có hiệu lực từ ngày 1/7.

Đáng chú ý, tại Điều 22 của Thông tư này, NHNN quy định rõ các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của khách hàng theo hướng dẫn của NHNN về thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Theo đó, các ngân hàng phải cung cấp danh sách theo yêu cầu của NHNN thông tin về các tài khoản có dấu hiệu gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Thời gian cung cấp chậm nhất vào ngày 10 hàng tháng.

Danh sách khách hàng cá nhân mở và sử dụng tài khoản thanh toán nghi ngờ liên quan giả mạo, gian lận, lừa đảo được ngân hàng cập nhật gồm mã khách hàng (CIF), số giấy tờ tùy thân, loại giấy tờ tùy thân, họ và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số tài khoản, ngày mở tài khoản, số điện thoại đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử, lý do nghi ngờ, trạng thái tài khoản và thông tin định danh duy nhất của thiết bị (địa chỉ MAC).

Việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng phương tiện điện tử theo hướng dẫn kỹ thuật kết nối của nhà điều hành.

Cùng với đó, phía nhà điều hành cũng đã xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi rỏ gian lận trong hoạt động thanh toán, gọi tắt là SIMO.

Hệ thống SIMO giúp kết nối các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán thông qua cả hai giao thức là portal và API với mục đích xây dựng 1 kho dữ liệu chung về tài khoản thanh toán có dấu hiệu nghi ngờ gian lận.

Không chỉ NHNN quản lý sát sao, hiện Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm công nghệ cao (A05) cũng đã triển khai giải pháp kết nối với các ngân hàng thương mại, các tổ chức trung gian thanh toán để thiết lập hệ thống thông tin kết nối trực tuyến.

Giá vàng SJC điều chỉnh giảm

Sau hơn hai tuần giữ ở mức 81 triệu đồng, biểu giá bán mỗi lượng vàng miếng SJC được thay đổi. Ngày 5/9, NHNN thông báo giá bán vàng miếng SJC trực tiếp cho 4 ngân hàng quốc doanh và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) ở mức 79,5 triệu đồng, giảm nửa triệu so với hôm trước. Theo quy định của NHNN, các đơn vị này được phép bán chênh tối đa 1 triệu đồng so với giá mua từ cơ quan quản lý.

Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu,
Giá vàng điều chỉnh giảm. Ảnh: T.L

Như vậy, sau hơn hai tuần giữ ở mức 81 triệu đồng, biểu giá bán mỗi lượng vàng miếng của SJC đã được thay đổi. Cụ thể, giá mỗi lượng vàng miếng thương hiệu SJC lùi về 80,5 triệu đồng. Ở chiều mua vào, giá vàng miếng SJC giảm tương đương, xuống 78,5 triệu đồng. Trong khi đó, giá bán vàng nhẫn giữ ở mức 77,4 – 78,6 triệu đồng/lượng mua vào – bán ra tương đương với tuần trước đó.

Tỷ giá ngân hàng trượt sâu, “thủng” mốc 25.000 VND/USD

Tuần qua ghi nhận tỷ giá tiếp tục giảm nhẹ, tỷ giá trung tâm đầu tuần được NHNN công bố ở mức 24.224 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tỷ giá trung tâm tuy có tín hiệu tăng nhẹ vào giữa tuần, nhưng sau đó lại giảm vào những ngày cuối tuần, với tỷ giá công bố hôm thứ Sáu là 24.222 đồng/USD, giảm 2 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra của Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.030 đồng/USD, không đổi so với hôm thứ Sáu tuần trước. Diễn biến tỷ giá bán ra của ngân hàng này tuần qua ghi nhận sự đi ngang vào những ngày đầu tuần, sau đó giảm mạnh vào cuối tuần, ghi nhận 24.925 đồng/USD vào hôm thứ Sáu, giảm 105 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tính từ đầu tháng 8 đến nay, giá USD tại các ngân hàng đã giảm hơn 500 đồng, tương đương mức giảm gần 2%./.

Chỉ số DXY biến động nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 6/9 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101 điểm, xấp xỉ mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Hồng Quyên

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80