Lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay liệu có tăng theo?

Anh Tú
(TBTCO) - Sau giai đoạn chững lại cuối tháng 9-10/2024, lãi suất huy động tăng trở lại tháng 11/2024 với sự nhập cuộc của một “ông lớn” quốc doanh cùng nhiều ngân hàng thương mại, chủ yếu ở những kỳ hạn ngắn 1-3 tháng. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cuộc đua tăng nóng lãi suất tiết kiệm khó diễn ra và tác động không quá lớn đến mặt bằng lãi suất cho vay cuối năm.
aa
Lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay liệu có tăng theo?
Nhiều ngân hàng thương mại có xu hướng tăng mạnh lãi suất huy động hơn so với tháng trước. Ảnh tư liệu

Rầm rộ tăng lãi suất kỳ hạn ngắn

Khảo sát lãi suất gửi tiết kiệm khi nhận lãi cuối kỳ, nhiều ngân hàng thương mại có xu hướng tăng mạnh lãi suất huy động hơn so với tháng trước, chủ yếu ở kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng. Riêng nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (big 4), Agribank có lãi suất huy động cao nhất ở hầu hết các kỳ hạn, với mức tăng 0,5%/năm. Cụ thể, Agribank niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 2,2%/năm, 2,5%/năm, 3,5%/năm và 4,7%/năm. Tuy vậy, lãi suất huy động tại Agribank vẫn thấp hơn đáng kể so với lãi suất huy động bình quân nhóm ngân hàng thương mại tư nhân.

Tính từ đầu tháng 11 đến nay, hàng loạt ngân hàng tăng lãi suất huy động, bao gồm: Agribank, Techcombank, MB Bank, VIB, BaoVietBank, BacABank, GPBank, CBBank, VietBank..., mốc lãi suất 6% áp dụng cho kỳ hạn dài cũng quay trở lại thị trường. Trước đó, trong tháng 10/2024, lãi suất huy động chững lại khi chỉ có một vài ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động từ 0,1 - 0,2%/năm.

Áp lực khi USD tăng trở lại

Khi đồng USD tăng trở lại những tháng gần đây, áp lực về tỷ giá khiến Ngân hàng Nhà nước phải nâng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng để điều tiết thanh khoản, ổn định tỷ giá dẫn đến tăng lãi suất liên ngân hàng ở một số kỳ hạn chủ chốt. Từ đó, lãi suất huy động ngắn hạn bị ảnh hưởng, còn lãi suất 6 tháng, 1 năm cũng chịu ảnh hưởng nhưng mức độ nhẹ hơn. TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính

Với kỳ hạn 1 tháng, Agribank đang bỏ xa nhóm big 4 khi tăng lãi suất huy động mạnh 0,5%/năm, từ 1,7%/năm lên 2,2%/năm. Một số ngân hàng lớn cũng tăng lãi suất từ 0,1 - 0,2%/năm như: Techcombank nâng lãi suất 0,1%/năm lên 3,2%/năm; MBBank tăng 0,2%/năm lên 3,1%/năm. Ngoài ra, các nhà băng khác cũng tăng lãi suất như: VIB tăng lên 3,4%/năm; GPBank tăng 0,2%/năm lên 3%/năm; CBBank tăng lên 3,85%/năm. Như vậy, lãi suất các ngân hàng dao động từ 1,6 - 3,95%/năm.

Kỳ hạn 3 tháng có số lượng nhà băng đua tăng lãi suất lớn nhất. Theo đó, Agribank tiếp tục dẫn đầu cuộc đua, nâng lãi suất lên 0,5%/năm, từ 2%/năm lên 2,5%/năm. Các ngân hàng khác tăng 0,1 - 0,3%/năm như: MB Bank tăng 0,1%/năm lên 4,1%/năm; VietBank lên 3,9%/năm; VIB lên 3,7%/năm; CBBank tăng 0,25%/năm lên 4,05%/năm; BaoVietBank tăng 0,3%/năm lên 4,1%/năm; GPBank nâng lãi suất lên 4,6%/năm từ mức 4,4%/năm. Tính chung lãi suất các ngân hàng dao động từ 1,9 - 4,25%/năm.

Còn kỳ hạn 6 tháng, Agribank tăng lên 3,5%/năm; MBBank tăng 0,1%/năm lên 4,9%/năm; GBBank tăng lên 4,6%/năm; CBBank lên 5,45%/năm.

Với các kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, 24 tháng lại không có quá nhiều biến động, Agribank cũng không chạy đua tăng lãi suất ở các kỳ hạn này.

Nỗ lực giữ lãi suất cho vay ổn định

Áp lực tăng tỷ giá vẫn tiếp diễn trong tháng 11/2024, song Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không phải bán ngoại tệ như tháng trước, giới phân tích cho rằng có thể do nhu cầu ngoại tệ không quá lớn. Vì vậy, khác với nhiều lần tăng lãi suất huy động trước do lạm phát hay sức ép tỷ giá, lần này chủ yếu do thanh khoản hệ thống có phần eo hẹp vì nhu cầu vốn gia tăng giai đoạn cuối năm. Dù vậy, mặt bằng lãi suất cho vay được dự báo duy trì ổn định để hỗ trợ doanh nghiệp, nền kinh tế phục hồi cuối năm.

Số liệu từ NHNN cho thấy đến ngày 22/11, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,12% so với cuối năm 2023, cao hơn mức tăng 10,1% của 10 tháng và mức thay đổi theo tháng cũng tốt hơn cùng kỳ.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, tốc độ tăng trưởng tín dụng phụ thuộc lớn từ tăng trưởng kinh tế GDP. Nếu triển vọng tăng trưởng kinh tế tốt, tín dụng sẽ tăng mạnh, còn vấn đề lãi suất chỉ là một phần. Những tháng đầu năm, kinh tế tăng trưởng chậm và chưa nhìn thấy nhiều triển vọng nhưng từ quý II/2024, tốc độ tăng trưởng cải thiện, doanh nghiệp lạc quan về tương lai nhiều hơn và có nhu cầu vay vốn phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

Dẫu nằm trong tính toán và chuẩn bị trước song khi cầu tín dụng cải thiện, trong bối cảnh mức tăng cung vốn lại thấp hơn và những tín hiệu thanh khoản thắt chặt trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, nhiều ngân hàng nhỏ và vừa tăng lãi suất huy động trên thị trường dân cư, chủ yếu vì quy mô huy động tiền gửi thấp và vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn liên ngân hàng.

Lãi suất cho vay không quá biến động, vẫn hỗ trợ tăng trưởng

Về xu hướng tăng lãi suất huy động cuối năm, vị chuyên gia này cho rằng mức tăng không lớn, tất nhiên còn phụ thuộc vào diễn biến đồng USD, do hiện chỉ số USD Index (DXY) đo sức mạnh của đồng USD với các đồng tiền chủ chốt khác đang ở ngưỡng nhạy cảm khoảng 106 - 107 điểm. Nếu đồng USD tiếp tục tăng, có thể NHNN thận trọng về động thái bơm tiền và khiến lãi suất ngắn hạn có thể tăng.

Theo đánh giá của lãnh đạo Viện Kinh tế - Tài chính, lãi suất cho vay hiện không quá cao so với lịch sử và vẫn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo dự báo, điều kiện kinh tế vĩ mô Việt Nam năm tới vẫn ổn định, khó lường nhất là ẩn số từ kinh tế thế giới, bởi nếu kinh tế thế giới suy thoái, kinh tế trong nước khó lòng thoát khỏi liên luỵ vì độ mở khá lớn.

Về lãi suất cho vay, theo NHNN, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,7 - 9,1%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm).

Tuần qua, NHNN cũng ban hành công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi ổn định, hợp lý, phù hợp với khả năng cân đối vốn, khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh và năng lực quản lý rủi ro, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và mặt bằng lãi suất thị trường.

Trong báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ mới phát hành, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, tính đến ngày 20/11, NHNN bơm ròng khoảng 110 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở, xấp xỉ lượng hút ròng 124 nghìn tỷ đồng trong tháng trước.

Cụ thể, ở kênh cầm cố, NHNN đã bơm ròng khoảng 42 nghìn tỷ đồng, chủ yếu thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn 7 ngày với mức lãi suất 4%/năm. Đối với kênh tín phiếu, quy mô phát hành tín phiếu giảm đáng kể trong tháng 11, chỉ khoảng hơn 9 nghìn tỷ đồng, lượng tiền bơm ròng qua kênh tín phiếu đến từ lượng tín phiếu phát hành trong tháng trước đáo hạn. Phần lớn tín phiếu được phát hành trong tháng qua có kỳ hạn 28 ngày, lãi suất bình quân xấp xỉ 4%/năm. Tại ngày 28/11, lượng tín phiếu lưu hành là khoảng 15,6 nghìn tỷ đồng, trong khi đó, giá trị đang lưu hành ở kênh cầm cố gần 78 nghìn tỷ đồng.

Theo VDSC, điểm đáng lưu ý về hoạt động trên thị trường mở trong tháng qua chính là số thành viên tham gia/trúng thầu ở kênh cầm cố luôn ở mức cao. Điều này cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng có dấu hiệu căng thẳng trên diện rộng. Diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng phù hợp với nhận định này khi lãi suất cho vay qua đêm bình quân trong 20 ngày đầu của tháng ở mức 5,17%/năm, cao hơn 1,55 điểm % so với mức bình quân của tháng trước. Đồng thời, lãi suất cho vay bình quân các kỳ hạn dưới 1 tháng cũng tăng từ 1,03 - 1,45 điểm %. Tuy nhiên, mức thay đổi thấp hơn ở kỳ hạn 3 tháng (tăng bình quân khoảng 0,85 điểm % so với tháng trước), cho thấy tình trạng khó khăn về thanh khoản của hệ thống diễn ra trong ngắn hạn vào mùa cao điểm của tăng trưởng tín dụng các tháng cuối năm.

Anh Tú

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80