Lãi suất huy động tăng, lãi suất đầu ra chịu sức ép

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục có động thái rục rịch tăng tại một số ngân hàng, nhưng lãi suất đầu ra có thể chưa ảnh hưởng ngay do các hợp đồng tín dụng thường đã ký từ trước. Tuy nhiên, về mặt trung và dài hạn, áp lực lãi suất đầu ra có thể sẽ dần gia tăng do các ngân hàng thường cũng phải chịu sức ép về việc đảm bảo chi phí và dự phòng.
aa

Lãi suất đầu vào tăng

Thời gian gần đây, lãi suất huy động tại một số ngân hàng thương mại đang tiếp tục rục rịch tăng, đặc biệt là với các kỳ hạn dài. Một số ngân hàng đã đưa mức lãi suất huy động lên khoảng 7,4 - 7,55% năm cho các kỳ hạn dài trên 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng. Mặt bằng lãi suất các kỳ hạn này theo đó đã cao hơn khoảng 0,5% so với cách đây 1 năm.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) là một trong những ngân hàng đang có mức lãi suất cao nhất với các kỳ hạn dài, khi mặt bằng lãi suất onlines của các kỳ hạn 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng đều đồng nhất ở mức 7,55%/tháng. Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn của kỳ hạn ngắn hơn cũng khá hấp dẫn, cụ thể lãi suất onlines của kỳ hạn 15 tháng là 7,5%/năm, 13 tháng là 7,45%/năm, kỳ hạn 12 tháng là 7,3%/năm…

Trong khi đó, một số ngân hàng khác cũng đang có mức lãi suất bám sát SCB. Chẳng hạn như Ngân hàng TMCP Nam Á (NamABank) cũng đã đưa lãi suất tiền gửi onlines lên tới 7,4%/năm với các kỳ hạn 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng. Còn tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcomBank), lãi suất 3 kỳ hạn dài nhất (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng) cũng đang ở mặt bằng là 7,25%/năm.

Giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB).
Giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB).

Ở kỳ hạn 6 tháng, ngân hàng có lãi suất cao nhất vẫn là SCB với 6,85%/năm. Tiếp đến, các ngân hàng có mức lãi suất bám sát SCB là những gương mặt như Ngân hàng Xây dựng (CBBank) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) với 6,6%/năm, NamABank với 6,5%/năm, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BacABank) 6,45%/năm, Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaovietBank) là 6,4%/năm, Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) là 6,2%/năm…

Ở kỳ hạn 1 tháng, các ngân hàng niêm yết lãi suất huy động dao động từ 3,% đến 4,%. Các ngân hàng có mặt bằng lãi suất cao ở kỳ hạn này có các cái tên như Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Xăng dầu (PGBank), Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu (GP Bank), SCB, PVcomBank…

Tuy nhiên, diễn biến lãi suất tăng trong thời gian qua chủ yếu diễn ra ở các ngân hàng cổ phần. Trong khi đó, các ông lớn thuộc 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn (nhóm Big 4) là Agribank, VietinBank, BIDV, Vietcombank vẫn chưa có động tĩnh gì đáng kể. Điều này dẫn đến sự chênh lệch lãi suất khá lớn giữa các ngân hàng, chẳng hạn, lãi suất 18 tháng onlines tại VietinBank là 5,75%, thấp hơn tới 1,8% so với lãi suất cùng kỳ hạn tại SCB.

Sức ép gia tăng với lãi suất đầu ra

Việc lãi suất huy động tăng đặt ra câu hỏi là điều này có ảnh hưởng đến lãi suất đầu ra hay không? Đây có thể là một yếu tố khó đo lường vì lãi suất tăng nhưng thực tế không phải trên diện rộng ở mọi kỳ hạn và đồng thời cũng không phải ở tất cả các ngân hàng.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, trước mắt xu hướng lãi suất cho vay sẽ chưa tăng. Lý do là, các tổ chức tín dụng cũng hiểu rằng, việc huy động vốn với lãi suất có thể cao hơn, nhưng việc nâng lãi suất cho vay cũng phải cân nhắc cho phù hợp với thực tiễn. Ông Hùng cho biết, các ngân hàng có chiến lược riêng và việc điều chỉnh lãi suất tại một số kỳ hạn của một số ngân hàng nhằm thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư tốt hơn và đó cũng là động thái riêng của những ngân hàng đó.

Với bối cảnh hiện nay, động thái tăng lãi suất huy động nếu không tiếp tục diễn ra nữa thì việc ảnh hưởng đến lãi suất đầu ra có thể sẽ không lớn như đánh giá nêu trên của ông Hùng. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất đầu vào nếu trở thành xu hướng thì sức ép tăng lãi suất đầu ra có thể sẽ khó tránh khỏi về mặt trung và dài hạn.

Gói hỗ trợ 2% lãi suất vẫn có ý nghĩa quan trọng

Đặt vấn đề về việc nếu như mặt bằng lãi suất tăng trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, chính sách thực thi gói hỗ trợ 2% lãi suất (tương đương mức hỗ trợ 40 nghìn tỷ đồng) theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP vẫn có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế.

TS. Châu Đình Linh cho biết, mặt bằng lãi suất thị trường tăng thì những đối tượng được hưởng chính sách vẫn được hưởng ưu đãi với mức thấp hơn 2% so với lãi suất thị trường thông thường. Như vậy, những đối tượng thuộc diện được hỗ trợ vẫn đỡ khó khăn hơn so với việc không được hưởng chính sách. Một mặt khác, các chuyên gia cho rằng, các ngân hàng cũng cần đẩy nhanh tiến độ triển khai gói hỗ trợ để dòng vốn sớm đến được các đối tượng thụ hưởng.

TS. Châu Đình Linh - giảng viên Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, cho biết diễn biến giá xăng tăng thời gian qua có thể chưa phản ánh hết vào giá các mặt hàng tiêu dùng cho đến tháng 6/2022, nhưng thời gian tới sau một thời gian đủ “độ trễ” nhất định thì ảnh hưởng giá cả có thể sẽ bộc lộ rõ hơn. Bối cảnh này cho thấy áp lực lạm phát đang rất lớn và mục tiêu kiểm soát lạm phát sẽ là một mục tiêu cần được ưu tiên. Để giảm bớt áp lực lạm phát, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải hút bớt vốn từ thị trường tiền tệ và sức ép lên lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay đều sẽ có thể gia tăng.

“Lãi suất huy động nếu tiếp tục tăng thì dần dần các ngân hàng cũng sẽ phải tính đến phương án tăng lãi suất cho vay để đảm bảo cân đối chi phí, dành một phần trích lập dự phòng rủi ro và duy trì lợi nhuận ở mức độ nào đó” - ông Linh nói.

Tuy nhiên, một trong những nghịch lý hiện nay là trong suốt thời gian qua, cơ quan quản lý đều giữ chủ trương duy trì mặt bằng lãi suất thấp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Về vấn đề này, ông Linh cho biết, quan điểm giữ lãi suất thấp hình thành từ cách đây 2 năm, thời điểm đó kinh tế cần hỗ trợ để vượt qua khó khăn dịch Covid-19, đồng thời diễn biến lạm phát toàn cầu cũng chưa quá trầm trọng. Đến thời điểm hiện tại, bối cảnh kinh tế cả trong và ngoài nước đã khác trước rất nhiều và trong tình huống mới thì việc điều hành thị trường cũng cần có giải pháp mới.

Chí Tín

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30