Thị trường tiền tệ tuần 5 - 9/6:

Lãi suất liên ngân hàng giảm, giá vàng dõi theo tín hiệu từ FED

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận diễn biến xu hướng giảm của lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Trong khi đó, diễn biến giá vàng tăng giảm đan xen qua từng phiên trong bối cảnh các nhà đầu tư vẫn dõi theo các tín hiệu từ động thái sắp tới của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED).
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm

Lãi suất liên ngân hàng giảm là một trong những tín hiệu đáng chú ý thời gian gần đây. Cụ thể, đến thời điểm hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm bình quân trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn 3,51%. Trong khi đó, các mức lãi suất kỳ hạn khác cũng khá thấp, với lãi suất kỳ hạn 1 tuần là 3,67%, kỳ hạn 2 tuần là 3,81%, kỳ hạn 1 tháng là 4,82%...

Lãi suất liên ngân hàng giảm, giá vàng dõi theo tín hiệu từ FED
Lãi suất liên ngân hàng giảm cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng đang ở trạng thái tốt. Ảnh: T.L
Fed tăng lãi suất lần thứ 10 liên tiếp Nếu FED tăng lãi suất trở lại, có thể sẽ tạo ra "cơn bão" tiếp theo

Mức lãi suất hiện tại theo đó đã thấp hơn khá nhiều so với thời điểm cuối tháng 5. Cụ thể, vào ngày 25/5, lãi suất qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng duy trì ở mức 4,14%. Các kỳ hạn khác tại thời điểm này tương ứng là 4,23% với lãi suất 1 tuần, 4,31% với lãi suất 2 tuần, 4,73% với lãi suất 1 tháng…

Trình Quốc hội tờ trình Dự án Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

Trong tuần qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng trình bày trước Quốc hội Tờ trình về dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).

Theo trình bày của Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, việc xây dựng dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) nhằm hoàn thiện quy định và xử lý những vướng mắc, bất cập của pháp luật về tổ chức tín dụng; luật hóa để tạo hành lang pháp lý cho việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Theo các chuyên gia, lãi suất liên ngân hàng giảm là một tín hiệu cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang ở trạng thái khá tốt, qua đó có cơ sở để mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, thời gian qua NHNN vẫn duy trì các phiên chào mua giấy tờ có giá với khối lượng, kỳ hạn phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, ổn định thị trường tiền tệ.

Tỷ giá trung tâm tăng, Vietcombank giảm

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ trong tuần qua diễn ra theo chiều tăng, nhưng tỷ giá do Vietcombank niêm yết lại có diễn biến ngược lại.

Cụ thể trong phiên giao đầu tuần, tỷ giá USD trung tâm được NHNN niêm yết ở mức 23.693 đồng/USD, nhưng ngay ngày hôm sau đã tăng 27 đồng lên mức 23.720/USD.

Trong các ngày tiếp theo, tỷ giá trung tâm chỉ biến động rất nhẹ, chốt phiên thứ sáu cuối tuần ở mức 23.717 đồng/USD.

Tại Vietcombank, tỷ giá tại thời điểm mở đầu tuần mới ở mức 23.300/23.330/23.670 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra), sau đó giảm 10 đồng mỗi đô la xuống 23.290/23.320/23.660 và sau đó giữ ổn định tại mặt bằng này cho đến hết tuần.

Các yếu tố vĩ mô hiện vẫn cho thấy những tín hiệu thuận lợi cho tỷ giá, đồng thời, việc NHNN đã mua tăng dự trữ ngoại hối thời gian qua cũng củng cố thêm tâm lý thị trường để đảm bảo khả năng can thiệp tỷ giá của NHNN nếu có biến động.

Lãi suất liên ngân hàng giảm, giá vàng dõi theo tín hiệu từ FED
Tín hiệu từ cuộc họp sắp tới của FED là thông tin đang được giới tài chính theo dõi.
Ảnh: T.L

Giá vàng chịu nhiều tác động trái chiều

Giá vàng tuần qua vẫn tiếp tục chịu nhiều tác động trái chiều dẫn đến những diễn biến tăng giảm xen kẽ trong các ngày trong tuần.

Ngày thứ hai đầu tuần, giá vàng miếng 9999 của SJC hôm nay tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào nhưng giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước, với mức niêm yết là 66,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 67,02 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.

Sau một số phiên tăng/giảm đan xen trong tuần, ngày thứ sáu 9/6, giá vàng miếng 9999 SJC loại 1 lượng trở lên được niêm yết ở mức 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,1 triệu đồng/lượng bán ra.

Giá vàng miếng 9999 SJC loại 5 chỉ bán ra ở 67,12 triệu đồng/lượng, loại dưới 2 chỉ bán ra là 67,13 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ trở lên hôm thứ sáu 9/6 có giá giao dịch là 55,6 triệu đồng/lượng mua vào và 56,55 triệu đồng/lượng bán ra; loại 0,5 chỉ có giá bán ra là 56,65 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng trên sàn Kitco tại thời điểm chiều 9/6 là 1.965 USD/ounce, cao hơn khoảng 18 USD so với giá hôm sáng thứ hai đầu tuần.

Công cụ CME FedWatch cho thấy, thị trường nhận định 73% khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ giữ nguyên lãi suất vào tuần tới. Đồng thời, 50% khả năng xảy ra một đợt điều chỉnh vào tháng 7.

Trong khi đó, giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ và nếu lãi suất tăng tiếp tục tăng có thể dẫn đến đồng USD mạnh lên và tác động tiếp theo sẽ là làm giảm sự hấp dẫn của vàng.

Khuyến nghị chính sách cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ

Một trong những sự kiện liên quan đến tài chính ngân hàng diễn ra tuần qua là việc NHNN tọa đàm kỹ thuật với chủ đề “Khuyến nghị chính sách và thảo luận về thúc đẩy cho vay dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ tại Việt Nam” trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ kỹ thuật “Thúc đẩy chương trình cải cách bình đẳng giới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ.

Nội dung tọa đàm đã trao đổi về những phát hiện của chuyên gia trong quá trình nghiên cứu chính sách tín dụng hỗ trợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ và việc áp dụng hệ thống phân tách dữ liệu theo giới; đồng thời chia sẻ các khuyến nghị từ phía ADB. Trên cơ sở những thông tin thu được từ tọa đàm, ADB sẽ hoàn thiện các báo cáo tư vấn và chuyển tới NHNN để xem xét, áp dụng.

Chí Tín

Đọc thêm

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

(TBTCO) - Mở rộng điều tra Chuyên án 268V, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố thêm 4 bị can, thu giữ thêm 354 viên kim cương và tiếp tục làm rõ đường dây buôn lậu đưa kim cương vào hệ thống SJC để tiêu thụ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại. Tuy vậy, mức tăng không lớn và không đồng đều giữa chiều mua - bán.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,240 ▲50K 13,940 ▲50K
Trang sức 99.99 13,250 ▲50K 13,950 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,355 ▲1220K 14,052 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,355 ▲1220K 14,053 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 132 ▲1K 138 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▲990K 136,634 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▲75K 10,366 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▲680K 93,999 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▲610K 84,338 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▲583K 80,612 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▲417K 57,702 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,365 ▲1230K 1,415 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cập nhật: 24/07/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17867 18141 18728
CAD 18165 18441 19058
CHF 31589 31969 32609
CNY 0 3846 3939
EUR 29350 29571 30652
GBP 34247 34638 35576
HKD 0 3226 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14919 15507
SGD 19851 20133 20704
THB 697 760 814
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/07/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80