Lãi suất trái phiếu chính phủ: Đi ngang ngắn hạn, nhưng dài hạn giảm là xu hướng chủ đạo

Duy Thái
(TBTCVN) - Lãi suất trái phiếu chính phủ đang có xu hướng nhích tăng nhẹ trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp. Áp lực tăng vẫn còn, nhưng trong ngắn hạn, lãi suất trái phiếu chính phủ có thể đi ngang trong biên độ hẹp, trước lo ngại về lạm phát và tâm lý thận trọng khi dịch bệnh diễn biến phức tạp.
aa

nh

Một phiên bán đấu giá cổ phần tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

Còn về dài hạn, dự báo xu hướng giảm sẽ chiếm ưu thế chủ đạo trên thị trường, khi nhiều yếu tố quan trọng vẫn được hậu thuẫn.

Lãi suất trái phiếu chính phủ nhích tăng

Số liệu thống kê có thấy, tính từ đầu năm tới hết tuần đầu tháng 5/2021, trên thị trường trái phiếu chính phủ đã huy động thành công hơn 65.514 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu có chiều hướng nhích tăng trong vài tháng trở lại đây.

b11

Tính hết quý I/2021, trên sơ cấp, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 15 năm và 20 năm đã thu hẹp đà giảm. Trong khi, lãi suất trái phiếu kỳ hạn kỳ hạn 10 năm và 30 năm đã tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, lần lượt tăng +12 điểm cơ bản (bps) và +5 bps.

Sang tháng 4/2021, lãi suất trái phiếu huy động tiếp tục nhích tăng. Ngoại trừ, kỳ hạn 20 năm và 30 năm giữ nguyên so với tháng 3, thì các kỳ hạn khác đều tăng: kỳ hạn 5 năm đạt 1,16% (+06 bps); 10 năm đạt 2,36% (+09 bps); 15 năm 2,56% (+08 bps).

Mới đây nhất, thống kê trong tuần đầu tiên của tháng 5, lãi suất trái phiếu chính phủ trúng thầu giữ nguyên ở kỳ hạn 7 năm và nhích tăng +1 đến +2 bps ở các kỳ hạn còn lại.

Trên thị trường thứ cấp, lãi suất giao dịch trái phiếu chính phủ tiếp tục giảm trong nửa đầu tháng 1 nhưng tăng trở lại trong thời gian còn lại của quý I/2021. Sang tháng 4/2021, áp lực tăng nhẹ được ghi nhận tại kỳ hạn ngắn, trong khi lãi suất trái phiếu kỳ hạn dài giảm nhẹ so với tháng 3.

Theo thống kê của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), lãi suất giao dịch trái phiếu các kỳ hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm lần lượt kết thúc tháng 4 ở: 0,177%/năm; 0,273%/năm; 0,838%/năm; 0,505%/năm; 1,17%/năm; 1,454%/năm; 2,424%; 2,625%/năm; 2,999%/năm và 3,205%/năm. Như vậy, so với tháng 3, lãi suất giao dịch trái phiếu các kỳ hạn trên lần lượt tăng +8,6 bps; +20,7 bps; +17,8 bps; +9,5 bps; +1,2 bps; +1,8 bps; -6,2 bps; -3 bps; -1,1 bps và -7,5 bps.

Lý giải về diễn biến này, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) đã đưa ra 3 nguyên nhân khiến lãi suất trái phiếu chính phủ trong nước nhích tăng. Cụ thể là do: Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng khi nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi tốt hơn kỳ vọng kéo theo lo ngại về sự thay đổi chính sách của các ngân hàng trung ương vốn đang trong trạng thái nới lỏng. Giá cả hàng hóa tăng tạo ra lạm phát kỳ vọng trong năm 2021. Cùng với đó, lợi suất trái phiếu đã giảm khá mạnh trong một khoảng thời gian dài trước đó, bởi vậy tâm lý nhà đầu tư khá nhạy cảm trước yếu tố tiềm ẩn có thể thay đổi sự ổn định vĩ mô.

Xu hướng giảm vẫn sẽ chiếm ưu thế

Các chuyên gia của VCBS cho rằng, trong ngắn hạn, lãi suất trái phiếu có thể đi ngang trong biên độ hẹp trước lo ngại về lạm phát và tâm lý thận trọng khi dịch bệnh diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, xu hướng giảm sẽ chiếm ưu thế chủ đạo trên thị trường. “Áp lực giảm sẽ hiện hữu trên thị trường trái phiếu với một số thông tin hỗ trợ không thay đổi” – chuyên gia VCBS nhấn mạnh.

Theo lý giải của các chuyên gia này, xu hướng giảm lãi suất trái phiếu sẽ được hậu thuẫn từ nhiều yếu tố khác nhau cả trong và ngoài nước. Theo đó, đối với ngoài nước, xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương trên thế giới, kéo theo xu hướng tăng giá của các tài sản. Trong nước, người dân giữ vững niềm tin Việt Nam sẽ một lần nữa thành công đẩy lùi và ngăn chặn dịch bệnh. Đồng thời, lạm phát vẫn trong khả năng kiểm soát, thậm chí lạm phát tháng tới nhiều khả năng giảm nhẹ do sức tiêu dùng phần nào bị tác động bởi làn sóng dịch mới xâm nhập vào Việt Nam. Ngoài ra, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng được kỳ vọng dồi dào sẽ ủng hộ cho chiều hướng giảm của lãi suất trái phiếu.

“Chúng tôi đánh giá lãi suất trái phiếu có thể đi ngang hoặc bật tăng nhẹ ngắn hạn trong tháng, tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn sẽ chiếm ưu thế chủ đạo trong dài hạn” – các chuyên gia của VCBS cho hay.

Còn theo các chuyên gia của SSI Research, lượng phát hành trái phiếu chính phủ trong tháng 4 mới chỉ hoàn thành 26% kế hoạch phát hành quý II, nên lượng gọi thầu của Kho bạc Nhà nước trong tháng 5 và tháng 6 được kỳ vọng khá cao.

Tuy nhiên, đây cũng là 2 tháng trái phiếu chính phủ đáo hạn nhiều nhất trong năm 2021 nên nhu cầu tái đầu tư cũng lớn. Bởi vậy, lãi suất trái phiếu chính phủ nhiều khả năng sẽ chỉ dao động trong biên độ hẹp.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18824
CAD 18063 18338 18955
CHF 30862 31239 31881
CNY 0 3835 3931
EUR 29207 29427 30506
GBP 34015 34405 35337
HKD 0 3184 3386
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14607 15192
SGD 19846 20128 20696
THB 695 759 811
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18159 18259 19184
CAD 18247 18347 19361
CHF 31131 31161 32739
CNY 3817.6 3842.6 3978
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29402 29432 31157
GBP 34327 34377 36135
HKD 0 3305 0
JPY 163.49 163.99 174.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14717 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20007 20137 20868
THB 0 724.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,703 25,740 26,180
USD20 25,673 25,740 26,180
USD1 25,653 25,740 26,180
AUD 18,184 18,284 19,389
EUR 29,161 29,261 30,919
CAD 18,170 18,270 19,575
SGD 20,072 20,222 20,779
JPY 163.85 165.35 170.9
GBP 34,184 34,334 35,400
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30