Lấy đầu tư công làm trụ đỡ thúc đẩy tăng trưởng
PV: Nhìn lại diễn biến tình hình kinh tế quý I/2026, theo ông, đâu là những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng?
![]() |
| TS. Nguyễn Văn Hiến |
TS. Nguyễn Văn Hiến: Quý I/2026, GDP của Việt Nam tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước - một kết quả nổi bật trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và bất định. Các trụ cột tăng trưởng chính gồm: dịch vụ tăng 8,18%; chế biến xuất khẩu tăng 19,8%; công nghiệp - xây dựng tăng 8,92%.
Diễn biến quý I cho thấy, niềm tin thị trường tại Việt Nam đã cải thiện đáng kể. Điều này thể hiện qua con số 96.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động; dòng vốn FDI đăng ký và thực hiện tăng trưởng tích cực (FDI đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, tăng 42,9%; FDI thực hiện đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1%). Đặc biệt, thị trường tài chính duy trì thanh khoản cao, phản ánh tâm lý tích cực của nhà đầu tư khi giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt khoảng 35.043 tỷ đồng/phiên, tăng 19,8% so với bình quân năm 2025.
Một động lực rất rõ là mức cầu thế giới đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hồi phục rõ nét. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23%. Đáng chú ý, nhập khẩu tư liệu sản xuất chiếm 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy doanh nghiệp nhập mạnh máy móc, linh kiện, nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất. Động lực cầu bên ngoài đã biến thành động lực cung trong nước và được đẩy mạnh, tiếp cho đà tăng trưởng.
Về cầu trong nước, theo số liệu thống kê, tiêu dùng quý I tăng 8,45%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%; nếu loại trừ yếu tố giá, thì tiêu dùng cuối cùng vẫn tăng 7% so với cùng kỳ. Từ đó, có thể nhận định, tiêu dùng quý I không đơn thuần tăng vì yếu tố mùa vụ, mà tăng vì tâm lý hộ gia đình đã bớt thận trọng hơn. Khi việc làm và thu nhập ổn định, người dân có xu hướng giảm tích trữ phòng ngừa và tăng chi tiêu thực tế.
Về đầu tư, điểm sáng là đầu tư công tăng trưởng mạnh mẽ. Giải ngân đầu tư công 3 tháng đầu năm đạt khoảng 11% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ cả về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7%; chi ngân sách nhà nước tăng 23,1%.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Trước ảnh hưởng của xung đột Trung Đông, thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời gian tới sẽ chịu tác động ra sao, thưa ông?
TS. Nguyễn Văn Hiến: Tôi cho rằng, tác động của xung đột tại Trung Đông đến xuất khẩu của Việt Nam sẽ chia thành 2 nhóm là tác động trực tiếp và tác động gián tiếp. Trong đó, tác động gián tiếp mới là yếu tố quyết định rủi ro thực sự đáng quan tâm hơn.
Cụ thể, xung đột tại Trung Đông có tác động trực tiếp tới xuất khẩu của Việt Nam, nhưng phạm vi hạn chế, vì tác động trực tiếp chủ yếu diễn ra tại thị trường Trung Đông và các tuyến vận tải liên quan, làm gián đoạn giao thương khu vực, chi phí logistics và bảo hiểm tăng mạnh đối với hàng đi Trung Đông hoặc qua các tuyến liên quan; rủi ro thanh toán, hợp đồng và thu hẹp cầu tại khu vực Trung Đông nếu xung đột kéo dài. Đây là những tác động trực tiếp nhìn thấy ngay, nhưng không quá lớn về quy mô, do Trung Đông không phải là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, mà ảnh hưởng chủ yếu tập trung vào một số ngành như thủy sản, nông sản, vật liệu xây dựng.
Tuy nhiên, tác động gián tiếp sẽ rộng và nguy hiểm hơn, vì tác động gián tiếp lan qua các kênh vĩ mô toàn cầu, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống xuất khẩu của Việt Nam qua các kênh: xung đột làm giá dầu tăng, từ đó làm tăng chi phí vận tải, giá thành sản xuất và chi phí logistics. Doanh nghiệp xuất khẩu đối mặt với tình trạng giảm biên lợi nhuận, kể cả khi đơn hàng chưa giảm.
Cần ổn định chi phí và chuỗi cung ứngTheo TS. Nguyễn Văn Hiến, ổn định chi phí và chuỗi cung ứng là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông diễn biến phức tạp. Chính sách cần ưu tiên nhằm hướng tới giảm tác động từ các cú sốc bên ngoài và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế như: chủ động nguồn năng lượng và dự trữ chiến lược; hỗ trợ giảm chi phí logistics; hỗ trợ doanh nghiệp tìm nguồn nguyên liệu thay thế; phát triển hạ tầng logistics quốc gia. |
Đồng thời, tuyến vận tải Á - Âu bị kéo dài làm tăng thời gian giao hàng, thiếu container, tắc nghẽn chuỗi cung ứng, từ đó gia tăng nguy cơ trễ đơn hàng, phạt hợp đồng, mất uy tín thương mại...
Giá năng lượng tăng tác động làm cho lạm phát toàn cầu tăng, các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU buộc phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tăng trưởng chậm lại, hệ quả là cầu nhập khẩu của các thị trường lớn suy yếu, đặc biệt với hàng tiêu dùng như dệt may, đồ gỗ, điện tử, từ đó làm thu hẹp thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, chuỗi cung ứng đầu vào có nguy cơ gián đoạn nguồn cung nguyên liệu như năng lượng, hóa chất, logistics trung gian. Từ đó, doanh nghiệp Việt Nam chịu áp lực “chi phí kép” là đầu vào tăng và đầu ra khó khăn.
Nhìn chung, đây là tác động mang tính hệ thống, ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường xuất khẩu, không chỉ khu vực Trung Đông, nên mức độ rủi ro đối với kinh tế Việt Nam lớn hơn nhiều so với tác động trực tiếp. Có thể nói, rủi ro lớn nhất đối với xuất khẩu của Việt Nam do cuộc chiến ở Trung Đông không phải là mất thị trường Trung Đông, mà là suy yếu mức cầu tại các thị trường xuất khẩu chủ lực như Mỹ và EU, đồng thời làm tăng chi phí toàn bộ chuỗi sản xuất và xuất khẩu.
PV: Để đạt mục tiêu tăng trưởng trong các quý tiếp theo và cả năm 2026 như đã đề ra, theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những chính sách và động lực nào?
TS. Nguyễn Văn Hiến: Trong bối cảnh hiện nay, để duy trì đà tăng trưởng trên nền tảng ổn định và bền vững, Việt Nam cần ưu tiên những chính sách và động lực sau:
Thứ nhất, ưu tiên số một là củng cố niềm tin thị trường. Như đã phân tích, niềm tin là “biến kích hoạt” toàn bộ hệ thống kinh tế. Vì vậy, chính sách cần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường kiểm soát lạm phát, tỷ giá, mặt bằng lãi suất hợp lý. Do tình hình biến động nhanh, rất cần thay đổi các chính sách để thích ứng, nhưng cần tránh thay đổi đột ngột gây “sốc kỳ vọng”, nhất là chính sách tỷ giá, chính sách giá xăng dầu… nhằm đảm bảo ổn định tâm lý nhà đầu tư và tâm lý tiêu dùng.
Thứ hai, kích hoạt cầu nội địa trong bối cảnh cầu thị trường thế giới tiềm ẩn nhiều biến động và rủi ro. Các chính sách cần ưu tiên là tiếp tục giảm thuế giá trị gia tăng nhằm kích cầu tiêu dùng, tăng thu nhập khả dụng của người dân, phát triển mạnh dịch vụ, du lịch, bán lẻ và thúc đẩy kinh tế số, thương mại điện tử...
Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Theo đó, tiếp tục đẩy nhanh tốc độ giải ngân đầu tư công về hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, ưu tiên các dự án có tính kết nối và lan tỏa cao; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân phát triển và thu hút FDI chất lượng cao.
Thứ tư, duy trì động lực xuất khẩu theo hướng thích ứng với tình hình thị trường thế giới. Trong đó, chuyển từ “tăng trưởng theo chu kỳ” sang “tăng trưởng thích ứng và giảm thiểu rủi ro”. Cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa tuyến logistics; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ để giảm phụ thuộc nhập khẩu đầu vào; tận dụng sâu hơn các FTA thế hệ mới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Dành cho bạn
Đọc thêm
Chính sách tài khóa tạo động lực tăng trưởng 2 con số
Giảm nghĩa vụ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế
Gia nhập Công ước Apostille: Bước tiến lớn trong cải cách thủ tục, thúc đẩy đầu tư quốc tế
Chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng: Mở “cánh cửa lớn” đón dòng vốn tỷ USD
Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng
Việt Nam có thể vươn lên như thế nào trong bối cảnh biến động toàn cầu?




