Lợi nhuận ngân hàng có thể bị “hãm phanh” trong quý IV

Chí Tín
(TBTCO) - Các ngân hàng vẫn ghi nhận lợi nhuận quý III và 9 tháng tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, lợi nhuận ngân hàng có thể sẽ bị “hãm phanh” mạnh trong quý IV, bởi ảnh hưởng của cuộc đua tăng lãi suất, đặc biệt tăng mạnh trong cuối quý III và đầu quý IV/2022.
aa

Lãi suất tăng và lợi nhuận vẫn không giảm

Trong quý III và 9 tháng năm 2022, diễn biến lãi suất huy động tuy chưa bùng nổ như trong khoảng 2 tháng nay, nhưng đã có những động thái tăng một cách chậm rãi và rải rác trong một số ngân hàng. Tuy nhiên, điều này cũng chưa ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng, thể hiện là kết quả kinh doanh của nhiều ngân hàng trong quý III và 9 tháng năm 2022 vẫn tăng trưởng khá tốt. Lợi nhuận của nhiều ngân hàng đã công bố cho thấy có những ngân hàng vẫn đạt tăng trưởng tới trên dưới 40%.

Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) là một trong những ngân hàng có tăng trưởng lợi nhuận khá cao trong các ngân hàng 9 tháng năm 2022. Theo đó, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng VIB đạt tới 7.814 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ và có đóng góp tốt từ thu nhập phi tín dụng. Trong khi đó, một trong những ngân hàng cổ phần khác cũng có được kết quả tăng trưởng lợi nhuận khá cao là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), với lợi nhuận trước thuế 9 tháng đã đạt 4.440 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ và hoàn thành 84% kế hoạch năm.

Các ngân hàng thương mại đang trong làn sóng tăng lãi suất huy động tiền gửi.
Các ngân hàng thương mại đang trong làn sóng tăng lãi suất huy động tiền gửi.

Một số ngân hàng khác có tăng trưởng lợi nhuận cao trong 9 tháng năm 2022 còn có những cái tên như: Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB)…

Nhìn vào diễn biến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thời gian qua cho thấy, việc thực hiện chuyển đổi số đã phần nào góp phần cải thiện biên lợi nhuận cho ngành Ngân hàng. Trong nội dung phân tích về hiệu quả gia tăng nhờ chuyển đổi số, ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TP Bank) cho biết, thời gian mở một thẻ tín dụng nếu áp dụng chuyển đổi số có thể chỉ còn 5 - 7 phút thay vì 5 - 7 ngày như trước đây. “Đây là việc mà trước đây chưa từng có. Hiện nay thẻ tín dụng có thể làm hàng loạt với chi phí thấp và cần rất ít nhân sự tham gia” - ông Hưng nói.

Khó khăn trong quý cuối năm

Mặc dù diễn biến kinh doanh 9 tháng vẫn có những tín hiệu khá tốt, nhưng các ngân hàng đang phải đối diện với những khó khăn trong quý cuối năm. Trong đó, cuộc đua lãi suất huy động nóng lên từ cuối quý III, kéo dài sang đầu quý IV có thể sẽ là yếu tố chính làm giảm biên lợi nhuận của các ngân hàng giai đoạn cuối năm.

Chỉ mới cách đây chưa lâu, khoảng đầu tháng 9, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) là ngân hàng có lãi suất cao nhất, nhưng cũng chỉ ở mức 7,3% đối với lãi suất tiền gửi onlines kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Sau đó, ngân hàng này đã nâng lãi suất lên mức cao nhất tới 8,9% và tiếp tục nâng lên mức 9,3%.

Làn sóng tăng lãi suất huy động cũng diễn ra tại các ngân hàng khác và cuộc đua “nóng” lên từ tháng 10 và tiếp tục kéo dài sang đầu tháng 11. Bên cạnh một số ngân hàng đưa ra các sản phẩm tiền gửi lãi suất cao, thì lãi suất tiền gửi thông thường của nhiều ngân hàng hiện cũng đã ở mặt bằng cao hơn khá nhiều so với cách đây 2 tháng. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) giới thiệu mức lãi suất cao nhất lên đến 9,2% cho kỳ hạn 13 tháng (với số tiền trên 100 triệu đồng). Một số ngân hàng khác cũng đã đưa lãi suất các kỳ hạn dài trên 1 năm lên mức xấp xỉ 9%. Ngay cả kỳ hạn dưới 1 năm hiện cũng đã có ngân hàng đưa ra mức lãi suất khá cao, chẳng hạn như Ngân hàng TMCP Kiên Long (Kienlong Bank) áp dụng lãi suất onlines kỳ hạn 9 tháng với mức 8,9%; Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) cũng đã tăng lãi không kỳ hạn lên kịch trần 1%/năm…

Các ngân hàng buộc phải hy sinh lợi nhuận để đảm bảo nguồn vốn

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động trong 9 tháng đầu năm thấp hơn tốc độ tăng trưởng cho vay. Điều này đặt ra thách thức đối với hệ số sử dụng vốn của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh như trên, việc tăng mạnh lãi suất huy động có thể khiến các ngân hàng sẽ phải hy sinh lợi nhuận, nhưng đây là diễn biến khó tránh khỏi trong việc cạnh tranh thu hút vốn giữa các kênh đầu tư. Đồng thời, các ngân hàng cũng phải duy trì sức hấp dẫn để đảm bảo tăng trưởng vốn huy động hợp lý so với tăng trưởng tín dụng.

Việc tăng lãi suất quá cao và nhanh trong thời gian qua được chuyên gia đánh giá là có thể sẽ gây ra áp lực lớn cho các ngân hàng về mặt lợi nhuận. Bởi lẽ, lãi suất cho vay dù có thể sẽ được các ngân hàng điều chỉnh, nhưng mức tăng có thể sẽ không nhiều như tăng lãi suất huy động. Điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biên thu nhập lãi thuần của các ngân hàng và qua đó ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các ngân hàng.

Chuyên gia phân tích thuộc Công ty chứng khoán BIDV cho biết, các ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất đầu ra với các khoản vay bất động sản và vay cá nhân, trong khi với các ngành nghề ưu tiên mức lãi suất tăng ít hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh lãi suất huy động tăng nhanh, các ngân hàng thương mại sẽ phải tiết giảm chi phí để hạn chế mức tăng lãi suất cho vay. Theo đó, các ngân hàng buộc phải phải chấp nhận hy sinh lợi nhuận khá nhiều, bởi hiện nay có đến 80% thu nhập ngân hàng đến từ thu lãi thuần từ cho vay.

Chí Tín

Đọc thêm

VietABank lãi quý I/2026 tăng vọt 44% nhờ thu ngoài lãi khởi sắc

VietABank lãi quý I/2026 tăng vọt 44% nhờ thu ngoài lãi khởi sắc

(TBTCO) - VietABank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng mạnh 44,1% lên 508,5 tỷ đồng, hoàn thành gần 35% kế hoạch năm. Động lực đến từ tăng trưởng tín dụng ổn định và nguồn thu ngoài lãi cải thiện. Đặc biệt, chi phí dự phòng giảm sâu 86,7% so với cùng kỳ, trở thành “đòn bẩy” chính giúp lợi nhuận bứt phá.
Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 15 - 20% lên khoảng 40.000 tỷ đồng, gia cố vị thế “big 5” lợi nhuận; duy trì tăng trưởng tín dụng khoảng 35%. Lãnh đạo MB nhấn mạnh, ngân hàng tận dụng cơ hội nhận chuyển giao MBV để bứt tốc trong 3 năm tới, đồng thời dự kiến tăng vốn điều lệ lên 102.687 tỷ đồng.
Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

(TBTCO) - Khi nhu cầu vốn gia tăng, bài toán không còn nằm ở quy mô huy động mà chuyển sang hiệu quả sử dụng và phân bổ, đòi hỏi tái cấu trúc các kênh dẫn vốn cho tăng trưởng bền vững.
Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 18/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.102 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi tỷ giá USD tự do đứng yên quanh 26.600 - 26.630 VND/USD sau khi giảm mạnh 200 đồng tuần qua. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY chốt tuần ở 98,21 điểm, tăng nhẹ phiên cuối, nhưng giảm 0,45% cả tuần, phản ánh USD dao động trong biên độ hẹp khi dòng tiền toàn cầu liên tục đảo chiều trước biến động địa chính trị và kỳ vọng chính sách.
Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng Sáng ngày 18/4, giá vàng trong nước đảo chiều tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 800.000 - 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 172 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm và chính thức khai trương hoạt động MBV Bà Rịa.
Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

(TBTCO) - PVI Holdings lên kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, với doanh thu hợp nhất khoảng 28.815 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.243 tỷ đồng; đồng thời, dự kiến chi trả cổ tức 33%, gồm 23% tiền mặt và 10% cổ phiếu giúp tăng vốn điều lệ. Lãnh đạo PVI cũng bật mí lộ trình thoái vốn của PVN sẽ được xây dựng trong giai đoạn 2026 - 2030 sau khi "lỡ hẹn" kế hoạch trước đó.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 17,200
Kim TT/AVPL 16,850 17,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 17,150
Nguyên Liệu 99.99 15,750 15,950
Nguyên Liệu 99.9 15,700 15,900
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 171,500
Hà Nội - PNJ 168,500 171,500
Đà Nẵng - PNJ 168,500 171,500
Miền Tây - PNJ 168,500 171,500
Tây Nguyên - PNJ 168,500 171,500
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 171,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,900 17,200
Miếng SJC Nghệ An 16,900 17,200
Miếng SJC Thái Bình 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,850 17,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,850 17,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,850 17,150
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,340 17,040
Trang sức 99.99 16,350 17,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 17,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 17,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 1,715
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 1,716
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 170
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,817 168,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,763 127,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,862 115,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,496 10,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,037 9,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,147 71,047
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 172
Cập nhật: 20/04/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18334 18610 19194
CAD 18695 18973 19590
CHF 33021 33407 34059
CNY 0 3800 3870
EUR 30337 30611 31647
GBP 34781 35174 36117
HKD 0 3231 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15182 15767
SGD 20182 20465 21002
THB 738 802 857
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,564 30,588 31,862
JPY 161.12 161.41 170.15
GBP 35,028 35,123 36,125
AUD 18,570 18,637 19,227
CAD 18,936 18,997 19,585
CHF 33,278 33,381 34,177
SGD 20,308 20,371 21,053
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 783.75 793.43 844.59
NZD 15,194 15,335 15,700
SEK - 2,822 2,905
DKK - 4,090 4,209
NOK - 2,773 2,854
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,234.26 - 6,997.43
TWD 754.41 - 908.65
SAR - 6,919.82 7,246.93
KWD - 83,924 88,778
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18535 18635 19558
CAD 18899 18999 20013
CHF 33251 33281 34864
CNY 3799 3824 3959.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30601 30631 32356
GBP 35130 35180 36938
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15299 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20316 20446 21178
THB 0 765.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,357
USD20 26,159 26,209 26,357
USD1 23,847 26,209 26,357
AUD 18,588 18,688 19,797
EUR 30,758 30,758 32,169
CAD 18,852 18,952 20,257
SGD 20,396 20,546 21,111
JPY 162.55 164.05 168.59
GBP 35,036 35,386 36,251
XAU 16,748,000 0 17,002,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/04/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80