Lợi nhuận ngân hàng dự báo vẫn tăng, nhưng cần lưu tâm chất lượng tài sản

Hướng  Cẩm
(TBTCO) - Hầu hết các ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý II/2024 đều ghi nhận kết quả lãi ròng tăng so với cùng kỳ năm trước; tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu của nhiều ngân hàng cũng đang tăng khá mạnh. Mặc dù nhiều dự báo đều cho thấy sự tăng trưởng của các ngân hàng sẽ duy trì trong nửa cuối năm, nhưng có thể sẽ có sự phân hóa hơn.
aa
Lợi nhuận ngân hàng dự báo vẫn tăng, nhưng cần lưu tâm chất lượng tài sản
Nhiều ngân hàng đồng loạt báo lợi nhuận quý II/2024 tăng mạnh. Ảnh tư liệu.

Lợi nhuận tăng, nhưng nợ xấu cũng tăng

“Mùa” báo cáo tài chính quý II/2024 đã gần qua với các con số tăng trưởng tích cực. Theo số liệu từ FiinTrade, nhóm ngân hàng tiếp tục trở thành điểm nhấn trên thị trường với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận so với cùng kỳ đạt gần 22%. Tăng trưởng toàn ngành đến từ nhóm ngân hàng tư nhân top đầu về quy mô vốn chủ, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước ghi nhận tăng trưởng thấp hơn so với mức chung toàn ngành.

Cụ thể, cái tên đứng “top” đầu tăng trưởng lợi nhuận là NVB, với lợi nhuận sau thuế quý II/2024 đạt 47,9 tỷ đồng, gấp gần 700% mức đạt được cùng kỳ năm 2023. Xếp sau là LPB, với lợi nhuận sau thuế quý II đạt 2.421 tỷ đồng, tăng 242% so với cùng kỳ năm 2023. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, LPB ghi nhận thu nhập lãi thuần đạt 16.216 tỷ đồng, tăng 4,1% so với năm trước và lãi sau thuế 4.720 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với cùng kỳ năm 2023.

Bên cạnh đó, loạt nhà băng lớn cũng đồng loạt báo lợi nhuận tăng mạnh. Trong nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước niêm yết, lợi nhuận VCB trong quý II/2024 đạt hơn 10.116 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là con số lợi nhuận cao nhất trong nhóm ngân hàng. Trong khi đó, BID cũng đạt lợi nhuận trước thuế quý II/2024 là 8.159 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, lãi trước thuế của nhà băng này đạt 15.549 tỷ đồng, tăng 12,1%.

Tương tự, nhóm các nhà băng tư nhân lớn cũng đồng loạt báo lợi nhuận quý II/2024 tăng mạnh như: TCB đạt 6.270 tỷ đồng, tăng 39,24%; ACB đạt 4.468 tỷ đồng, tăng 15,6%; MBB đạt lãi sau thuế 6.101,9 tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là khoản lợi nhuận quý cao nhất trong lịch sử hoạt động của nhà băng này.

Tuy nhiên, bên cạnh tăng trưởng lợi nhuận thì nợ xấu cũng gia tăng. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu của các nhà băng tại ngày 30/6/2024 đồng loạt tăng so với số đầu năm. Mức tăng nợ xấu có sự phân hóa giữa các ngân hàng, thậm chí ở các ngân hàng lớn.

Triển vọng nhóm ngân hàng

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2024 là 15%

Tính đến ngày 30/6/2024, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng đã đạt 6% so với cuối năm 2023. Có thể thấy một vài điểm sáng, tăng cao hơn so với mặt bằng chung như lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 9,88%, tín dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 18,16%. Ngoài ra, một số gói tín dụng ưu đãi cũng đang có tốc độ giải ngân tốt.

Như vậy, tăng trưởng tín dụng toàn ngành Ngân hàng đã đạt mục tiêu Chính phủ và NHNN đưa ra trước đó (tăng trưởng tín dụng đạt 5 - 6% vào cuối quý II/2024).

Tăng trưởng tín dụng tốt sau nửa đầu năm 2024 được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng cho kết quả kinh doanh của nhóm ngân hàng trong quý II/2024 nói riêng, cũng như cả năm nay.

Trong báo cáo mới nhất, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán VNDirect đưa ra dự báo, tăng trưởng lợi nhuận ròng toàn ngành Ngân hàng trong năm 2024 sẽ đạt khoảng 23,8% so với cùng kỳ. Theo đó, sau một thời gian tăng giá do chính sách tiền tệ nới lỏng và môi trường lãi suất thấp, cổ phiếu ngân hàng được VNDirect đưa ra dự báo sẽ tiếp tục phân hóa và điều chỉnh dựa trên hiệu suất kinh doanh.

Chuyên gia của VNDirect đánh giá, đây là thời điểm tốt để tiếp tục tích lũy các cổ phiếu ngân hàng một cách có chọn lọc dựa trên triển vọng tăng trưởng. Quan điểm này dựa trên cơ sở sự phục hồi rõ rệt của nền kinh tế thực vào quý II/2024, làm giảm bớt những lo ngại liên quan đến chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, áp lực tỷ giá giảm khi lãi suất Mỹ giảm, và môi trường kinh tế tổng thể ổn định hơn sẽ giảm bớt áp lực thanh khoản cho hệ thống. Ngành Ngân hàng sẽ là ngành đầu tiên hưởng lợi từ sự phục hồi kinh tế. Tỷ lệ P/B (giá trên giá trị sổ sách) của ngành Ngân hàng thấp hơn so với trung bình 5 năm. Áp lực bán từ các nhà đầu tư nước ngoài đang dần giảm.

Chất lượng tài sản sẽ là vấn đề cần quan tâm khi cuối thời điểm quý II/2024 ghi nhận nợ xấu tại nhiều nhà băng tăng mạnh. Dù vậy, theo quan điểm từ các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), tình hình nợ xấu sẽ được cải thiện hơn so với năm 2023 nhờ Thông tư sửa đổi Thông tư 23/2023/TT-NHNN dự kiến sẽ được gia hạn đến hết năm 2024; chính sách hỗ trợ của các ngân hàng thông qua lãi suất; tháo gỡ những vấn đề pháp lý để các doanh nghiệp tiếp tục triển khai mở rộng hoạt động kinh doanh - sản xuất.

Theo ông Barry Weisblatt David - Giám đốc Khối phân tích, Công ty CP chứng khoán VNDIRECT, thị trường hiện tại nhiều nhóm ngành sẽ mang lại cơ hội đầu tư tốt cho thời gian còn lại của năm 2024, trong đó có nhóm ngành ngân hàng.

“Mặc dù phải thừa nhận chất lượng tài sản đã suy giảm trong thời gian gần đây, nhưng chúng tôi tin rằng, chất lượng tài sản sẽ phục hồi trong những tháng tới khi nền kinh tế Việt Nam được cải thiện. Hơn nữa, các luật liên quan tới thị trường bất động sản mới sẽ giúp các ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ghi nhận giá trị từ tài sản thế chấp. Quan trọng hơn, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ, vượt mục tiêu 15% của NHNN sẽ thúc đẩy thu nhập” - ông Barry Weisblatt David cho hay.

Khi USD suy yếu sẽ giảm áp lực cho chính sách tiền tệ

“Đồng USD suy yếu sẽ giảm bớt sức ép phải có hành động thắt chặt chính sách, nhằm hỗ trợ tỷ giá từ phía Ngân hàng Nhà nước, từ đó giảm nguy cơ khiến mặt bằng lãi suất tăng cao, điều vốn có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng. Hơn nữa, các ngân hàng hiện đang giao dịch ở mức P/B hấp dẫn là 1,7 lần, thấp hơn một chút so với mức trung bình 5 năm” - ông Barry Weisblatt David.

Hướng Cẩm

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▲10K 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▲10K 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▲10K 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 09/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18151 18426 19005
CAD 18258 18534 19155
CHF 31354 31733 32377
CNY 0 3819 3915
EUR 29492 29713 30794
GBP 34251 34642 35590
HKD 0 3172 3375
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14807 15397
SGD 19940 20222 20794
THB 702 765 819
USD (1,2) 25640 0 0
USD (5,10,20) 25678 0 0
USD (50,100) 25706 25720 26090
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,578 29,602 31,008
JPY 164.42 164.72 174.72
GBP 34,524 34,617 35,811
AUD 18,408 18,475 19,176
CAD 18,470 18,529 19,214
CHF 31,671 31,769 32,702
SGD 20,081 20,143 20,932
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,238 3,248 3,384
KRW 17.88 18.65 20.28
THB 752.49 761.78 815.7
NZD 14,859 14,997 15,446
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,967 4,108
NOK - 2,769 2,867
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 743.58 - 900.93
SAR - 6,783.81 7,146.54
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25705 25705 26095
AUD 18332 18432 19357
CAD 18440 18540 19551
CHF 31563 31593 33183
CNY 3801.1 3826.1 3961.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29661 29691 31417
GBP 34553 34603 36363
HKD 0 3330 0
JPY 165.1 165.6 176.12
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14907 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20088 20218 20949
THB 0 731.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,737 25,787 26,180
USD20 25,707 25,787 26,180
USD1 25,687 25,787 26,180
AUD 18,462 18,562 19,678
EUR 29,543 29,643 31,303
CAD 18,444 18,544 19,852
SGD 20,226 20,376 21,063
JPY 166.12 167.62 173.17
GBP 34,572 34,722 35,780
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/09/2026 21:30
Ngân hàng