Lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh bất ngờ tăng mạnh trong quý II

(TBTCO) - Lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) qua các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế ghi nhận tăng mạnh trong quý II, đạt gần 2,82 tỷ USD, tăng 16,9% so với quý trước.
aa
Đồng USD. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Đồng USD. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) trong nửa đầu năm nay đạt 5,23 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái.

Đáng chú ý, lượng kiều hối chuyển về thành phố bất ngờ tăng mạnh trong quý II/2025.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2, lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) qua các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế ghi nhận tăng mạnh trong quý II, khi đạt gần 2,82 tỷ USD, tăng 16,9% so với quý trước (quý I là 2,41 tỷ USD) và tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2024 đạt 2,31 tỷ USD).

Tính chung nửa đầu năm nay, tổng lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) đạt 5,23 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh sự ổn định của dòng kiều hối trong thời gian qua.

Bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2, đánh giá lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh trong quý II năm nay qua các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế tăng mạnh so với cùng kỳ những năm gần đây.

Xét theo thị trường, khu vực châu Phi có lượng kiều hối chuyển về thành phố tăng cao nhất khi có tốc độ tăng 130,8% so với cùng kỳ; trong khi đó, khu vực châu Âu có tốc độ tăng 16%, châu Mỹ tăng 11,9%, châu Đại Dương tăng 8,9%...

Châu Á tiếp tục là thị trường chiếm tỷ trọng lớn và áp đảo các thị trường còn lại. Nguyên nhân có thể là do sự tăng mạnh từ các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc... - nơi có nhiều lao động Việt Nam làm việc.

Không chỉ riêng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (cũ), lượng kiều hối chuyển về các tỉnh, thành khác trong khu vực Đông Nam Bộ cũng ghi nhận tín hiệu tích cực.

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2, các tỉnh, thành Đông Nam Bộ (cũ) bao gồm Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước có lượng kiều hối chuyển về qua các tổ chức tín dụng tính đến 30/6/2025 đạt trên 127,5 triệu USD.

Các tỉnh này không có tổ chức kinh tế hoạt động trực tiếp nhận và chi, trả ngoại tệ. Theo đó, kiều hối chuyển về qua tổ chức tín dụng tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đạt hơn 27,2 triệu USD, Bình Dương đạt hơn 53,2 triệu USD, Đồng Nai đạt hơn 42,3 triệu USD, Bình Phước đạt hơn 4,6 triệu USD.

Như vậy, với địa bàn mở rộng, lượng kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh (mới) ước tính hơn 5,3 tỷ USD. Đây là con số có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh thị trường ngoại hối còn nhiều áp lực.

Việc dòng tiền kiều hối chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương tăng đều qua các giai đoạn không chỉ hỗ trợ người dân cải thiện thu nhập, mà còn giúp tạo điều kiện cho phát triển kinh tế thành phố, kích cầu tiêu dùng và đầu tư. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế còn nhiều ẩn số thách thức, dòng kiều hối chuyển về ổn định đã giúp tăng nguồn cung ngoại tệ, hỗ trợ cân bằng cán cân thương mại và cán cân thanh toán, giảm sức ép lên tỷ giá.

Để phát huy nguồn lực “vàng” kiều hối, Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai Đề án "Chính sách phát huy hiệu quả nguồn lực kiều hối trên địa bàn đến năm 2030." Đề án này tập trung vào việc tạo môi trường thuận lợi cho kiều hối chảy vào thành phố, hướng dòng kiều hối vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đầu tư…

Với quy mô của một siêu đô thị sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh (mới) được kỳ vọng sẽ có nhiều dư địa phát triển, qua đó thúc đẩy dòng kiều hối chuyển về đầu tư tiếp tục duy trì tích cực hơn trong thời gian tới./.

Theo Vietnamplus.vn

Đọc thêm

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 166/2026/TT-BTC bãi bỏ một số thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tài chính liên tịch ban hành liên quan đến lĩnh vực tài chính. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/12/2026.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 140,600
Hà Nội - PNJ 136,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 136,600 140,600
Miền Tây - PNJ 136,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 136,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 14,240
Miếng SJC Nghệ An 13,940 14,240
Miếng SJC Thái Bình 13,940 14,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 14,080
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 14,080
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 14,080
Trang sức 99.9 13,360 13,960
Trang sức 99.99 13,370 13,970
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 14,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 14,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cập nhật: 05/11/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17499 17771 18347
CAD 17883 18157 18777
CHF 30878 31255 31894
CNY 0 3809 3906
EUR 28283 28500 29582
GBP 33863 34252 35190
HKD 0 3146 3349
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14169 14753
SGD 19584 19865 20434
THB 682 745 799
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,510 25,510 25,890
USD(1-2-5) 24,490 - -
USD(10-20) 24,490 - -
EUR 28,330 28,353 29,703
JPY 158.08 158.37 167.96
GBP 34,025 34,117 35,308
AUD 17,693 17,757 18,434
CAD 18,060 18,118 18,790
CHF 31,118 31,215 32,144
SGD 19,694 19,755 20,535
CNY - 3,776 3,922
HKD 3,209 3,219 3,355
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 731.14 740.17 792.64
NZD 14,155 14,286 14,715
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,801 3,935
NOK - 2,716 2,813
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,924.84 - 6,688.66
TWD 705.62 - 855.01
SAR - 6,728.14 7,088.96
KWD - 81,227 86,447
AED - 6,743 7,268
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25520 25520 25890
AUD 17685 17785 18710
CAD 18061 18161 19175
CHF 31106 31136 32718
CNY 3791.7 3816.7 3952.2
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28454 28484 30209
GBP 34162 34212 35970
HKD 0 3300 0
JPY 158.94 159.44 169.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14280 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19737 19867 20589
THB 0 711.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30