Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/9: Tỷ giá USD biến động hẹp, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 29.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/9 ghi nhận tỷ giá USD/VND biến động trong biên độ hẹp, trong khi nhiều ngoại tệ mất giá. Trên thế giới, các ngân hàng trung ương đồng loạt hạ hoặc giữ nguyên lãi suất. Trong bối cảnh áp lực suy giảm, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 29.312 tỷ đồng sau 4 tuần ròng rã hút ròng, song lãi suất liên ngân hàng vẫn bật tăng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/9: USD “chợ đen” lao dốc, Ngân hàng Nhà nước hút ròng suốt 4 tuần "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngày 26/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.194 VND/USD, tăng 3 đồng so với hôm trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần là 26.454 VND/USD, còn tỷ giá sàn là 23.934 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng tăng tương ứng lên 23.985 - 26.403 VND/USD (mua vào - bán ra).

USD tăng nhẹ, nhiều ngoại tệ trượt giá

Tính chung tuần qua từ ngày 22/9 đến ngày 26/9, tỷ giá USD chỉ nhích tăng nhẹ. Theo đó, tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước dao động rất hẹp, điều chỉnh nhỏ giọt chỉ 3 - 5 đồng mỗi phiên và chốt tuần ở 25.194 VND/USD, cao hơn cuối tuần trước 8 đồng, đảo chiều so với mức giảm 30 đồng của tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/9: Tỷ giá USD biến động hẹp, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 29.000 tỷ đồng
Tuần qua, tỷ giá USD/VND chỉ nhích tăng nhẹ, biên độ dao động rất hẹp, tỷ giá trung tâm chốt 25.194 VND/USD, cao hơn cuối tuần trước 8 đồng. Ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng 8 - 14 đồng, trong khi thị trường tự do tăng 50 đồng sau phiên lao dốc tuần trước. Trái lại, EUR và GBP giảm mạnh, JPY gần như đi ngang.

Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết 26.183 - 26.453 VND/USD, tăng 8 đồng cả hai chiều so với cuối tuần trước; trong khi tại BIDV là 26.216 - 26.453 VND/USD, tăng lần lượt 14 đồng chiều mua và 8 đồng chiều bán.

Tỷ giá thị trường tự do sau cú hạ nhiệt mạnh 510 đồng ở tuần trước, tuần này đã ổn định trở lại, với 03 phiên "bất động" và chốt tuần giao dịch ở 26.490 - 26.590 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng bạc xanh với rổ các đồng tiền chủ chốt, trải qua một tuần tăng điểm, tăng 0,8% lên 98,44 điểm. Đồng USD bật tăng so với các đồng tiền lớn sau khi dữ liệu kinh tế Mỹ tích cực được công bố, làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất.

Dù giới giao dịch vẫn kỳ vọng Fed sẽ thực hiện ít nhất hai lần cắt giảm lãi suất trong hai cuộc họp còn lại của năm, nhưng các tín hiệu từ Chủ tịch Jerome Powell và nhiều quan chức khác cho thấy quyết định cuối cùng sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế sắp công bố. Giới đầu tư hiện chờ báo cáo chỉ số PCE, thước đo lạm phát ưa thích của Fed, sẽ được công bố vào tối thứ sáu để tìm thêm manh mối về chính sách sắp tới.

Các ngoại tệ khác suy yếu đáng kể. Đơn cử, tỷ giá EUR được Vietcombank niêm yết 30.017,87 - 31.600,24 VND/EUR, giảm 247 - 260 đồng trong tuần; tại BIDV là 30.473 - 31.571 VND/EUR, giảm 207 - 222 đồng. Còn tỷ giá GBP tại Vietcombank là 34.321,57 - 35.778,31 VND/GBP, giảm mạnh hơn ở mức 385 - 402 đồng; tại BIDV 34.916 - 35.720 VND/GBP, giảm 313 - 327 đồng. Đà giảm của EUR/GBP phù hợp với bối cảnh USD duy trì sức mạnh tương đối.

Tỷ giá JPY tiếp tục biến động rất hẹp. Theo đó, Vietcombank niêm yết 170,24 - 181,05 VND/JPY và BIDV 173,52 - 180,33 VND/JPY, cùng giảm nhẹ khoảng 2 đồng so với cuối tuần trước.

Nhiều ngân hàng trung ương hạ lãi suất, trong nước bơm ròng hơn 29.000 tỷ đồng

Trước đó, hàng loạt quyết định lãi suất điều hành của các ngân hàng trung ương trên thế giới được đưa ra, trong khi Fed quyết giảm 25 điểm cơ bản, về mức 4 - 4,25% như kỳ vọng của thị trường thì Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 4% do lo ngại lạm phát cao sẽ làm giảm dư địa cho việc tiếp tục cắt giảm lãi suất.

Đà tăng tỷ giá ngắn hạn đã hạ

Trong báo cáo mới công bố, Phòng Nghiên cứu và Phân tích Chứng Khoán Yuanta Việt Nam kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục ổn định khi đà tăng ngắn hạn đã hạ nhiệt. "Việc Fed giảm lãi suất sẽ là yếu tố giúp chênh lệch lãi suất USD và VND sớm thu hẹp, qua đó, hỗ trợ cho tỷ giá USD/VND" - nhóm phân tích đánh giá.

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada hạ lãi suất qua đêm thêm 25 điểm cơ bản, xuống còn 2,5% trước áp lực từ kinh tế và thị trường lao động suy yếu.

Bên cạnh đó, một số quốc gia trong khu vực cũng điều chỉnh chính sách, điển hình như Indonesia bất ngờ hạ lãi suất xuống 4,75% nhằm hỗ trợ tăng trưởng, trong khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 0,5%.

Ngày 26/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.194
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/9: Tỷ giá USD biến động hẹp, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 29.000 tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Theo đánh giá của Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), khi căng thẳng thương mại toàn cầu tiếp tục hạ nhiệt, các rủi ro tiêu cực đối với tiền tệ châu Á sẽ suy giảm. "Trong thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng xu hướng suy yếu của đồng USD sẽ tiếp tục khi Fed nối lại chu kỳ cắt giảm lãi suất, kéo tỷ giá đồng USD so với đồng tiền châu Á giảm trong các quý tới" - chuyên gia UOB kỳ vọng.

Dù vậy, tốc độ giảm giá của USD so với các đồng tiền châu Á có thể diễn ra ở mức vừa phải, do triển vọng tăng trưởng kinh tế còn nhiều thách thức tại khu vực và lập trường chính sách tiền tệ ôn hòa của các ngân hàng trung ương châu Á có thể làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào tiền tệ khu vực. Sức mạnh của tiền tệ châu Á sẽ được hỗ trợ một phần bởi xu hướng giảm tiếp của tỷ giá USD/CNY. Nhóm phân tích UOB dự báo USD/CNY sẽ giảm xuống 7,11 vào quý IV/2025 và 7,02 vào quý III/2026.

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở trong tuần (từ ngày 22 đến 26/9), khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 79.811 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có 50.498,96 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 29.312 tỷ đồng trong tuần qua kênh thị trường mở, chấm dứt 4 tuần ròng rã hút ròng 35.103 tỷ đồng. Có 168.852,35 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố./.

Lãi suất liên ngân hàng tiến sát 6%

Trong tuần, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống gia tăng rõ rệt. Lãi suất qua đêm bật lên 4,57% vào ngày 25/9, cao hơn 0,68 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt lên 5,63% và 5,79%, tăng mạnh 1,55 và 0,88 điểm phần trăm. Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng cũng nhích lên 5,42% và 5,5%, tăng tương ứng 0,35 và 0,09 điểm phần trăm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1500K 17,502 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1500K 17,503 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲1551K 1,748 ▲1578K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲1551K 1,749 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲1533K 1,733 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲4752K 171,584 ▲4752K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲3600K 130,138 ▲3600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲3265K 118,006 ▲3265K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲2929K 105,874 ▲2929K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲2799K 101,194 ▲2799K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲2001K 72,423 ▲2001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cập nhật: 25/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80