Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/9: USD “chợ đen” lao dốc, Ngân hàng Nhà nước hút ròng suốt 4 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật của thị trường tiền tệ trong tuần (từ ngày 15 đến 19/9) cho thấy, tỷ giá USD/VND hạ nhiệt rõ rệt, tỷ giá trung tâm giảm 30 đồng, nối tiếp đà giảm 32 đồng của tuần trước; thị trường tự do lao dốc 510 đồng. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 9.195 tỷ đồng tuần thứ 4 liên tiếp, cùng xu hướng Fed hạ lãi suất để kìm đà tăng tỷ giá.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá "kìm chân" chính sách tiền tệ

Ngày 19/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.186 VND/USD, giữ nguyên so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá trần trong ngày là 26.445 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.927 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết 23.977 - 26.395 VND/USD, không đổi so với phiên trước.

Tỷ giá USD "chợ đen" lao dốc 510 đồng

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tăng nhẹ ở chiều mua vào, giữ nguyên ở chiều bán. Còn tỷ giá USD "chợ đen" đứng hình 3 phiên liên tiếp, giao dịch ở 26.440 - 26.540 VND/USD (mua vào - bán ra).

Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/9
Ảnh tư liệu.
Từ ngày 15 - 19/9, tỷ giá USD/VND hạ nhiệt rõ rệt khi tỷ giá trung tâm giảm 30 đồng và nối tiếp đà giảm 32 đồng của tuần trước; ngân hàng thương mại đồng loạt giảm ở chiều bán, còn thị trường tự do lao dốc mạnh 510 đồng cả 2 chiều còn 26.440 - 26.540 VND/USD.

Trong tuần (từ ngày 15 đến 19/9), diễn biến tỷ giá USD cho thấy xu hướng hạ nhiệt rõ rệt.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt ngày 19/9 ở mức 25.186 VND/USD, giảm 30 đồng so với cuối tuần trước, với 3 phiên giảm liên tục từ 8 - 12 đồng trước và sau phiên họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed); đồng thời, nối tiếp đà giảm 32 đồng của tuần trước.

So với diễn biến của tỷ giá trung tâm, mức giảm tại các ngân hàng thương mại khá tương đồng. Theo đó, Vietcombank niêm yết 26.175 - 26.445 VND/USD, trong khi BIDV ở mức 26.202 - 26.445 VND/USD. So với cuối tuần trước, cả hai ngân hàng cùng giảm 31 đồng ở chiều bán ra, dù ở chiều mua vào có sự khác biệt: Vietcombank tăng nhẹ 9 đồng, trong khi BIDV giảm 6 đồng.

Đáng chú ý nhất là thị trường tự do, tỷ giá giao dịch giảm mạnh 510 đồng trong tuần, còn 26.440 - 26.540 VND/USD. Đây là sự đảo chiều đáng kể so với nhiều tuần trước. Việc sụt giảm mạnh cho thấy, nhu cầu nắm giữ USD trên kênh phi chính thức đang hạ nhiệt, nhiều khả năng do áp lực đầu cơ ngắn hạn giảm sút sau quyết định hạ lãi suất của Fed, cùng với động thái bán ngoại tệ có kỳ hạn từ Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tăng 0,5% lên 97,6 điểm, phục hồi từ mức thấp nhất kể từ tháng 2/2022 là 96,22 điểm, ghi nhận ngay sau quyết định hạ lãi suất của Fed.

Đối với các ngoại tệ khác, cả hai ngân hàng cùng điều chỉnh tăng nhẹ tỷ giá EUR. Vietcombank niêm yết 30.265 - 31.860 VND/EUR, tăng tương ứng 90 - 95 đồng; BIDV cũng tăng 110 đồng ở chiều mua và 81 đồng ở chiều bán, lên 30.680 - 31.793 VND/EUR.

Ngược lại, đồng GBP lại chịu áp lực giảm mạnh. Vietcombank điều chỉnh giảm hơn 200 đồng ở cả hai chiều, BIDV cũng giảm 157 - 188 đồng, đưa tỷ giá GBP xuống 34.707 - 36.180 VND/GBP (tại Vietcombank); 35.229 - 36.047 VND/GBP (tại BIDV).

Với đồng JPY, mức biến động khá hẹp, Vietcombank niêm yết 174 - 183 VND/JPY, giảm chưa tới 1 đồng so với cuối tuần trước.

Dự báo tỷ giá USD đã ở vùng đỉnh, kỳ vọng sẽ ổn định hơn

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường tài chính của Ngân hàng Techcombank, tỷ giá USD/VND thời gian qua tiếp tục chịu áp lực tăng, chủ yếu do nhu cầu mua USD của các doanh nghiệp để thanh toán tiền nhập khẩu nguyên vật liệu và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) rút ròng khỏi hệ thống chứng khoán.

Thêm vào đó, chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, giải ngân vốn vay nước ngoài giảm, nhưng nhu cầu trả nợ lại tăng cũng tạo áp lực lên tỷ giá. Ngân hàng Nhà nước đã đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của thị trường bằng cách bán ngoại tệ với kỳ hạn 6 tháng và có hủy ngang ngày 25 - 26/8.

Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/9
Thị trường tiền tệ tuần từ 15 - 19/9: USD “chợ đen” lao dốc, Ngân hàng Nhà nước hút ròng suốt 4 tuần. Ảnh tư liệu.
"Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn được Ngân hàng Nhà nước duy trì ở mức hợp lý, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá. Nguồn kiều hối được kỳ vọng về Việt Nam trong tháng cuối năm, tạo thêm nguồn cung ngoại tệ cho thị trường. Dựa trên các yếu tố trên, chúng tôi dự báo, tỷ giá USD/VND sẽ tăng khoảng 2,5 - 3,5% vào thời điểm cuối năm" - nhóm phân tích của Techcombank đánh giá.

Nhóm phân tích từ Techcombank cho rằng, tỷ giá USD/VND đang ở đỉnh và kỳ vọng sẽ hạ nhiệt vào cuối năm nhờ Fed bắt đầu cắt giảm lãi suất từ tháng 9, kết hợp với xu hướng suy yếu của đồng USD.

Chia sẻ gần đây, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho biết, tính đến ngày 12/9, USD đã giảm 10% nhưng VND vẫn mất giá 3,4%, thuộc nhóm ít đồng tiền giảm giá so với USD.

Ông Lực chỉ ra 4 nguyên nhân chính, đó là cán cân thanh toán âm do thâm hụt dịch vụ, đặc biệt du lịch và logistics yếu; bất ổn thuế quan khiến nhu cầu găm giữ ngoại tệ tăng; giá vàng biến động mạnh, kéo theo nhập lậu, gây áp lực ngoại hối; chênh lệch lãi suất, khi Mỹ duy trì lãi suất 4,2 - 4,5%, còn Việt Nam giữ lãi suất liên ngân hàng tương tự để hỗ trợ tăng trưởng, khiến dòng vốn ngoại rút ra.

Dù vậy, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV dự báo, từ nay đến cuối năm, tỷ giá sẽ ổn định hơn nhờ Fed hạ lãi suất và việc triển khai Nghị định 232/2025/NĐ-CP giảm áp lực thị trường vàng. Dự báo VND cả năm giảm tối đa khoảng 4%./.

Hút ròng hơn 9.000 tỷ đồng, chuỗi 4 tuần liên tiếp

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở trong tuần (từ ngày 15 đến 19/9), khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 52.099 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 61.294,82 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 9.195,34 tỷ đồng trong tuần qua kênh thị trường mở (OMO).

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước liên tục giảm khối lượng chào thầu và duy trì trạng thái hút ròng VND trên kênh OMO suốt 4 tuần liên tiếp (từ ngày 25/8 đến nay), qua đó, kéo lượng vốn lưu hành từ mức đỉnh kỷ lục 225.430 tỷ đồng cuối tháng 7 xuống còn 139.540,27 tỷ đồng.

Trong tuần, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận diễn biến tăng rõ rệt ở hầu hết các kỳ hạn. Ở kỳ hạn qua đêm, lãi suất tăng từ mức 4,12% ngày 12/9 lên 4,54% ngày 17/9, tức tăng tới 42 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tuần cũng có diễn biến tương tự, từ 4,35% lên 4,70%, tăng 35 điểm cơ bản. Các kỳ hạn dài hơn như 2 tuần và 1 tháng duy trì xu hướng tăng đều, lần lượt lên 4,93% (tăng 35 điểm cơ bản) và 5,19% (tăng 32 điểm cơ bản). Riêng kỳ hạn 3 tháng, lãi suất giữ nguyên quanh 5,49%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1500K 17,502 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1500K 17,503 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲1551K 1,748 ▲1578K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲1551K 1,749 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲1533K 1,733 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲4752K 171,584 ▲4752K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲3600K 130,138 ▲3600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲3265K 118,006 ▲3265K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲2929K 105,874 ▲2929K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲2799K 101,194 ▲2799K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲2001K 72,423 ▲2001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cập nhật: 25/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80