Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua 8 - 12/9 cho thấy, thị trường ngoại hối có phần hạ nhiệt sau nhiều tuần căng thẳng, khi tỷ giá trung tâm liên tiếp giảm, khép lại ở 25.216 VND/USD sau khi Ngân hàng Nhà nước bán ra khoảng 1,5 tỷ USD kỳ hạn gần 3 tuần trước. Hầu hết thị trường kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp tiếp đà giảm áp lực tỷ giá.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

Ngày 12/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.216 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá trần - sàn tương ứng 26.477 VND/USD và 23.955 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết tiếp đà hạ nhiệt, còn 24.006 - 26.426 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm 32 đồng, USD “chợ đen” vẫn giữ sức nóng

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại tuần ở mức 25.216 VND/USD, tức giảm 32 đồng so với tuần trước.

Trong báo cáo thị trường tài chính tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, trong hai ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước đã bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất. Ảnh minh hoạ.

Quan sát diễn biến tỷ giá tuần qua tại các ngân hàng thương mại, nhiều nhà băng hạ mạnh chiều bán, song đều tăng chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD nhích nhẹ ở chiều mua vào (tăng 6 đồng) trong khi chiều bán ra lại giảm 34 đồng, niêm yết ở 26.166 - 26.476 VND/USD. Diễn biến tại BIDV cũng đồng pha, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.208 - 26.476 VND/USD, tương ứng chiều mua vào tăng mạnh 68 đồng, trong khi bán ra giảm 24 đồng.

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, sức nóng trên thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt, tỷ giá trung tâm giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại ở 25.216 VND/USD. Tại ngân hàng, USD được hạ mạnh chiều bán nhưng tăng chiều mua, trong khi thị trường tự do vẫn tăng 50 đồng hai chiều, lên 26.850 - 26.950 VND/USD.

Diễn biến ở thị trường tự do lại trái chiều, nối dài 6 tuần tăng liên tiếp. Trong đó, phiên đầu tuần bật lên 26.915-27.015 VND/USD, tăng 115 đồng, vượt 27.000 đồng.

Sau khi tăng nóng, tỷ giá "chợ đen" có ba phiên đứng yên và một phiên hạ nhiệt. So với tuần trước (180 đồng), mức tăng tuần thấp hơn rõ rệt (50 đồng), nhưng vẫn cho thấy sức nóng trên thị trường phi chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,5 điểm. Đà suy yếu của bạc xanh xuất phát từ số đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tăng mạnh và lạm phát nhích nhẹ, làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp tới.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank lại ghi nhận mức tăng mạnh cả hai chiều, mua vào vọt lên 30.174,79 VND/EUR (tăng 196,6 đồng) và bán ra 31.765,43 VND/EUR (tăng 206,9 đồng). Tại BIDV cũng lên 30.570 - 31.712 VND/EUR (tăng 243 đồng chiều mua và 141 đồng chiều bán).

Tỷ giá GBP còn nổi bật hơn khi leo lên 34.908,09 - 36.389,72 VND/GBP tại Vietcombank, tăng tương ứng 337,2 đồng chiều mua và 351,5 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, thể hiện đà tăng quyết liệt của bảng Anh. Tại BIDV, mức tăng tới 334 đồng chiều mua và 208 đồng chiều bán.

Fed trước áp lực giảm lãi suất, kỳ vọng tỷ giá bớt căng

Chia sẻ tại Data Talk với chủ đề: "Số liệu vĩ mô tháng 8 và ấn số từ Fed" vừa diễn ra, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, Mỹ là nền kinh tế cần được theo dõi sát bởi câu chuyện lãi suất và diễn biến kinh tế. Vừa qua, điểm nhấn rõ nét nhất chính là lo ngại thị trường lao động "đổ vỡ" và cần sự hỗ trợ kịp thời của Fed.

Tâm lý thị trường đã xoay chuyển mạnh, đẩy kỳ vọng Fed giảm lãi suất 3 lần liên tiếp trong các tháng 9, 10 và 12, tổng cộng 0,75% năm nay. Sang năm 2026, thị trường còn kỳ vọng Fed tiếp tục hạ thêm 0,75%, tức tổng cộng 6 lần giảm trong 2 năm, đưa lãi suất về mức 2,75 - 3%. Dẫu vậy, bức tranh kinh tế Mỹ còn nhiều biến số khó lường tác động đến tiến trình hạ lãi suất.

Về mối lo làn sóng lạm phát lần thứ hai xảy đến đẩy nền kinh tế Mỹ bước vào đình lạm, ông Báu cho rằng, điều này gần như không có khả năng xảy ra, bởi giá nhà, giá thuê nhà đang sụt giảm, lạm phát không phải mối lo ngại quá lớn. Đồng thời, bảo lưu quan điểm lạm phát của Mỹ sẽ sớm ổn định, tiệm cận mốc 3 - 3,1% và sau đó suy giảm những năm sau.

Giảm lãi suất nhanh chưa chắc tốt

"Có một điểm cũng cần phải lưu ý, Fed chỉ giảm lãi suất nhiều nếu thị trường lao động Mỹ chịu tác động rất tiêu cực, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới sức cầu nền kinh tế Mỹ và từ đấy, ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, hãy cẩn thận khi Fed giảm lãi suất quá nhiều" - ông Linh lưu ý.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) bổ sung, hiện không chỉ nhà đầu tư quốc tế mà cả nhà đầu tư Việt Nam đều kỳ vọng Fed giảm lãi suất nhiều hơn 2 - 3 lần trong năm nay.

MBS cũng cho rằng, theo công cụ FedWatch của Sở Giao dịch hàng hóa Chicago (CME), thị trường đang định giá khoảng 90% Fed sẽ giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Chỉ số DXY cũng suy giảm trong bối cảnh rủi ro đối với thị trường lao động ngày càng gia tăng, khi cả phía cung và cầu lao động đều có dấu hiệu suy yếu đáng kể. Đồng USD được dự báo sẽ duy trì đà giảm về cuối năm khi Fed được dự đoán sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Nguồn: MBS.

Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá. "Chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS đánh giá./.

Hút ròng nhẹ hơn 2.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng ít biến động

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 64.002,32 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 66.205,86 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 2.203,54 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Chỉ còn 148.735,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng USD có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 11/9 nhích nhẹ 13 điểm cơ bản lên 4,07%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần duy trì đà giảm, lần lượt về 4,23% và 4,51%, thấp hơn 3 - 8 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm mạnh nhất, mất 27 điểm cơ bản, xuống 4,91%. Kỳ hạn 3 tháng 5,5%, giảm nhẹ 3 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,890 ▼50K 16,590 ▼50K
Trang sức 99.99 15,900 ▼50K 16,600 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26373
AUD 18682 18782 19704
CAD 18869 18969 19985
CHF 33402 33432 35020
CNY 3808 3833 3968.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30508 30538 32264
GBP 35267 35317 37077
HKD 0 3355 0
JPY 164.05 164.55 175.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15459 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20362 20492 21225
THB 0 758.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80