Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua 8 - 12/9 cho thấy, thị trường ngoại hối có phần hạ nhiệt sau nhiều tuần căng thẳng, khi tỷ giá trung tâm liên tiếp giảm, khép lại ở 25.216 VND/USD sau khi Ngân hàng Nhà nước bán ra khoảng 1,5 tỷ USD kỳ hạn gần 3 tuần trước. Hầu hết thị trường kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp tiếp đà giảm áp lực tỷ giá.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

Ngày 12/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.216 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá trần - sàn tương ứng 26.477 VND/USD và 23.955 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết tiếp đà hạ nhiệt, còn 24.006 - 26.426 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm 32 đồng, USD “chợ đen” vẫn giữ sức nóng

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại tuần ở mức 25.216 VND/USD, tức giảm 32 đồng so với tuần trước.

Trong báo cáo thị trường tài chính tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, trong hai ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước đã bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất. Ảnh minh hoạ.

Quan sát diễn biến tỷ giá tuần qua tại các ngân hàng thương mại, nhiều nhà băng hạ mạnh chiều bán, song đều tăng chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD nhích nhẹ ở chiều mua vào (tăng 6 đồng) trong khi chiều bán ra lại giảm 34 đồng, niêm yết ở 26.166 - 26.476 VND/USD. Diễn biến tại BIDV cũng đồng pha, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.208 - 26.476 VND/USD, tương ứng chiều mua vào tăng mạnh 68 đồng, trong khi bán ra giảm 24 đồng.

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, sức nóng trên thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt, tỷ giá trung tâm giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại ở 25.216 VND/USD. Tại ngân hàng, USD được hạ mạnh chiều bán nhưng tăng chiều mua, trong khi thị trường tự do vẫn tăng 50 đồng hai chiều, lên 26.850 - 26.950 VND/USD.

Diễn biến ở thị trường tự do lại trái chiều, nối dài 6 tuần tăng liên tiếp. Trong đó, phiên đầu tuần bật lên 26.915-27.015 VND/USD, tăng 115 đồng, vượt 27.000 đồng.

Sau khi tăng nóng, tỷ giá "chợ đen" có ba phiên đứng yên và một phiên hạ nhiệt. So với tuần trước (180 đồng), mức tăng tuần thấp hơn rõ rệt (50 đồng), nhưng vẫn cho thấy sức nóng trên thị trường phi chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,5 điểm. Đà suy yếu của bạc xanh xuất phát từ số đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tăng mạnh và lạm phát nhích nhẹ, làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp tới.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank lại ghi nhận mức tăng mạnh cả hai chiều, mua vào vọt lên 30.174,79 VND/EUR (tăng 196,6 đồng) và bán ra 31.765,43 VND/EUR (tăng 206,9 đồng). Tại BIDV cũng lên 30.570 - 31.712 VND/EUR (tăng 243 đồng chiều mua và 141 đồng chiều bán).

Tỷ giá GBP còn nổi bật hơn khi leo lên 34.908,09 - 36.389,72 VND/GBP tại Vietcombank, tăng tương ứng 337,2 đồng chiều mua và 351,5 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, thể hiện đà tăng quyết liệt của bảng Anh. Tại BIDV, mức tăng tới 334 đồng chiều mua và 208 đồng chiều bán.

Fed trước áp lực giảm lãi suất, kỳ vọng tỷ giá bớt căng

Chia sẻ tại Data Talk với chủ đề: "Số liệu vĩ mô tháng 8 và ấn số từ Fed" vừa diễn ra, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, Mỹ là nền kinh tế cần được theo dõi sát bởi câu chuyện lãi suất và diễn biến kinh tế. Vừa qua, điểm nhấn rõ nét nhất chính là lo ngại thị trường lao động "đổ vỡ" và cần sự hỗ trợ kịp thời của Fed.

Tâm lý thị trường đã xoay chuyển mạnh, đẩy kỳ vọng Fed giảm lãi suất 3 lần liên tiếp trong các tháng 9, 10 và 12, tổng cộng 0,75% năm nay. Sang năm 2026, thị trường còn kỳ vọng Fed tiếp tục hạ thêm 0,75%, tức tổng cộng 6 lần giảm trong 2 năm, đưa lãi suất về mức 2,75 - 3%. Dẫu vậy, bức tranh kinh tế Mỹ còn nhiều biến số khó lường tác động đến tiến trình hạ lãi suất.

Về mối lo làn sóng lạm phát lần thứ hai xảy đến đẩy nền kinh tế Mỹ bước vào đình lạm, ông Báu cho rằng, điều này gần như không có khả năng xảy ra, bởi giá nhà, giá thuê nhà đang sụt giảm, lạm phát không phải mối lo ngại quá lớn. Đồng thời, bảo lưu quan điểm lạm phát của Mỹ sẽ sớm ổn định, tiệm cận mốc 3 - 3,1% và sau đó suy giảm những năm sau.

Giảm lãi suất nhanh chưa chắc tốt

"Có một điểm cũng cần phải lưu ý, Fed chỉ giảm lãi suất nhiều nếu thị trường lao động Mỹ chịu tác động rất tiêu cực, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới sức cầu nền kinh tế Mỹ và từ đấy, ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, hãy cẩn thận khi Fed giảm lãi suất quá nhiều" - ông Linh lưu ý.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) bổ sung, hiện không chỉ nhà đầu tư quốc tế mà cả nhà đầu tư Việt Nam đều kỳ vọng Fed giảm lãi suất nhiều hơn 2 - 3 lần trong năm nay.

MBS cũng cho rằng, theo công cụ FedWatch của Sở Giao dịch hàng hóa Chicago (CME), thị trường đang định giá khoảng 90% Fed sẽ giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Chỉ số DXY cũng suy giảm trong bối cảnh rủi ro đối với thị trường lao động ngày càng gia tăng, khi cả phía cung và cầu lao động đều có dấu hiệu suy yếu đáng kể. Đồng USD được dự báo sẽ duy trì đà giảm về cuối năm khi Fed được dự đoán sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Nguồn: MBS.

Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá. "Chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS đánh giá./.

Hút ròng nhẹ hơn 2.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng ít biến động

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 64.002,32 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 66.205,86 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 2.203,54 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Chỉ còn 148.735,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng USD có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 11/9 nhích nhẹ 13 điểm cơ bản lên 4,07%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần duy trì đà giảm, lần lượt về 4,23% và 4,51%, thấp hơn 3 - 8 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm mạnh nhất, mất 27 điểm cơ bản, xuống 4,91%. Kỳ hạn 3 tháng 5,5%, giảm nhẹ 3 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17825 18098 18679
CAD 18587 18864 19482
CHF 32701 33085 33734
CNY 0 3470 3830
EUR 29901 30174 31204
GBP 34433 34824 35758
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14997 15585
SGD 20048 20331 20856
THB 721 784 838
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,073 30,097 31,345
JPY 161.38 161.67 170.41
GBP 34,719 34,813 35,798
AUD 18,078 18,143 18,717
CAD 18,779 18,839 19,418
CHF 33,023 33,126 33,886
SGD 20,187 20,250 20,924
CNY - 3,760 3,860
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.26 16.96 18.34
THB 773.63 783.18 833.38
NZD 15,041 15,181 15,540
SEK - 2,780 2,862
DKK - 4,025 4,141
NOK - 2,668 2,747
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,232.31 - 6,992.8
TWD 745.53 - 897.62
SAR - 6,894.03 7,217.19
KWD - 83,555 88,358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18015 18115 19041
CAD 18771 18871 19888
CHF 32949 32979 34566
CNY 3761.6 3786.6 3922.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30091 30121 31846
GBP 34742 34792 36544
HKD 0 3355 0
JPY 162.21 162.71 173.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15109 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20208 20338 21071
THB 0 750.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17200000 17200000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,359
USD20 26,155 26,205 26,359
USD1 23,849 26,205 26,359
AUD 18,099 18,199 19,330
EUR 30,290 30,290 31,732
CAD 18,732 18,832 20,158
SGD 20,305 20,455 21,453
JPY 162.88 164.38 169.1
GBP 34,739 35,089 36,003
XAU 16,718,000 0 17,022,000
CNY 0 3,669 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80