Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua 8 - 12/9 cho thấy, thị trường ngoại hối có phần hạ nhiệt sau nhiều tuần căng thẳng, khi tỷ giá trung tâm liên tiếp giảm, khép lại ở 25.216 VND/USD sau khi Ngân hàng Nhà nước bán ra khoảng 1,5 tỷ USD kỳ hạn gần 3 tuần trước. Hầu hết thị trường kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp tiếp đà giảm áp lực tỷ giá.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

Ngày 12/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.216 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá trần - sàn tương ứng 26.477 VND/USD và 23.955 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết tiếp đà hạ nhiệt, còn 24.006 - 26.426 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm 32 đồng, USD “chợ đen” vẫn giữ sức nóng

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại tuần ở mức 25.216 VND/USD, tức giảm 32 đồng so với tuần trước.

Trong báo cáo thị trường tài chính tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, trong hai ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước đã bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất. Ảnh minh hoạ.

Quan sát diễn biến tỷ giá tuần qua tại các ngân hàng thương mại, nhiều nhà băng hạ mạnh chiều bán, song đều tăng chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD nhích nhẹ ở chiều mua vào (tăng 6 đồng) trong khi chiều bán ra lại giảm 34 đồng, niêm yết ở 26.166 - 26.476 VND/USD. Diễn biến tại BIDV cũng đồng pha, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.208 - 26.476 VND/USD, tương ứng chiều mua vào tăng mạnh 68 đồng, trong khi bán ra giảm 24 đồng.

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, sức nóng trên thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt, tỷ giá trung tâm giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại ở 25.216 VND/USD. Tại ngân hàng, USD được hạ mạnh chiều bán nhưng tăng chiều mua, trong khi thị trường tự do vẫn tăng 50 đồng hai chiều, lên 26.850 - 26.950 VND/USD.

Diễn biến ở thị trường tự do lại trái chiều, nối dài 6 tuần tăng liên tiếp. Trong đó, phiên đầu tuần bật lên 26.915-27.015 VND/USD, tăng 115 đồng, vượt 27.000 đồng.

Sau khi tăng nóng, tỷ giá "chợ đen" có ba phiên đứng yên và một phiên hạ nhiệt. So với tuần trước (180 đồng), mức tăng tuần thấp hơn rõ rệt (50 đồng), nhưng vẫn cho thấy sức nóng trên thị trường phi chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,5 điểm. Đà suy yếu của bạc xanh xuất phát từ số đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tăng mạnh và lạm phát nhích nhẹ, làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp tới.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank lại ghi nhận mức tăng mạnh cả hai chiều, mua vào vọt lên 30.174,79 VND/EUR (tăng 196,6 đồng) và bán ra 31.765,43 VND/EUR (tăng 206,9 đồng). Tại BIDV cũng lên 30.570 - 31.712 VND/EUR (tăng 243 đồng chiều mua và 141 đồng chiều bán).

Tỷ giá GBP còn nổi bật hơn khi leo lên 34.908,09 - 36.389,72 VND/GBP tại Vietcombank, tăng tương ứng 337,2 đồng chiều mua và 351,5 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, thể hiện đà tăng quyết liệt của bảng Anh. Tại BIDV, mức tăng tới 334 đồng chiều mua và 208 đồng chiều bán.

Fed trước áp lực giảm lãi suất, kỳ vọng tỷ giá bớt căng

Chia sẻ tại Data Talk với chủ đề: "Số liệu vĩ mô tháng 8 và ấn số từ Fed" vừa diễn ra, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, Mỹ là nền kinh tế cần được theo dõi sát bởi câu chuyện lãi suất và diễn biến kinh tế. Vừa qua, điểm nhấn rõ nét nhất chính là lo ngại thị trường lao động "đổ vỡ" và cần sự hỗ trợ kịp thời của Fed.

Tâm lý thị trường đã xoay chuyển mạnh, đẩy kỳ vọng Fed giảm lãi suất 3 lần liên tiếp trong các tháng 9, 10 và 12, tổng cộng 0,75% năm nay. Sang năm 2026, thị trường còn kỳ vọng Fed tiếp tục hạ thêm 0,75%, tức tổng cộng 6 lần giảm trong 2 năm, đưa lãi suất về mức 2,75 - 3%. Dẫu vậy, bức tranh kinh tế Mỹ còn nhiều biến số khó lường tác động đến tiến trình hạ lãi suất.

Về mối lo làn sóng lạm phát lần thứ hai xảy đến đẩy nền kinh tế Mỹ bước vào đình lạm, ông Báu cho rằng, điều này gần như không có khả năng xảy ra, bởi giá nhà, giá thuê nhà đang sụt giảm, lạm phát không phải mối lo ngại quá lớn. Đồng thời, bảo lưu quan điểm lạm phát của Mỹ sẽ sớm ổn định, tiệm cận mốc 3 - 3,1% và sau đó suy giảm những năm sau.

Giảm lãi suất nhanh chưa chắc tốt

"Có một điểm cũng cần phải lưu ý, Fed chỉ giảm lãi suất nhiều nếu thị trường lao động Mỹ chịu tác động rất tiêu cực, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới sức cầu nền kinh tế Mỹ và từ đấy, ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, hãy cẩn thận khi Fed giảm lãi suất quá nhiều" - ông Linh lưu ý.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) bổ sung, hiện không chỉ nhà đầu tư quốc tế mà cả nhà đầu tư Việt Nam đều kỳ vọng Fed giảm lãi suất nhiều hơn 2 - 3 lần trong năm nay.

MBS cũng cho rằng, theo công cụ FedWatch của Sở Giao dịch hàng hóa Chicago (CME), thị trường đang định giá khoảng 90% Fed sẽ giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Chỉ số DXY cũng suy giảm trong bối cảnh rủi ro đối với thị trường lao động ngày càng gia tăng, khi cả phía cung và cầu lao động đều có dấu hiệu suy yếu đáng kể. Đồng USD được dự báo sẽ duy trì đà giảm về cuối năm khi Fed được dự đoán sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Nguồn: MBS.

Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá. "Chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS đánh giá./.

Hút ròng nhẹ hơn 2.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng ít biến động

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 64.002,32 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 66.205,86 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 2.203,54 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Chỉ còn 148.735,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng USD có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 11/9 nhích nhẹ 13 điểm cơ bản lên 4,07%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần duy trì đà giảm, lần lượt về 4,23% và 4,51%, thấp hơn 3 - 8 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm mạnh nhất, mất 27 điểm cơ bản, xuống 4,91%. Kỳ hạn 3 tháng 5,5%, giảm nhẹ 3 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80