Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua 8 - 12/9 cho thấy, thị trường ngoại hối có phần hạ nhiệt sau nhiều tuần căng thẳng, khi tỷ giá trung tâm liên tiếp giảm, khép lại ở 25.216 VND/USD sau khi Ngân hàng Nhà nước bán ra khoảng 1,5 tỷ USD kỳ hạn gần 3 tuần trước. Hầu hết thị trường kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp tiếp đà giảm áp lực tỷ giá.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

Ngày 12/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.216 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá trần - sàn tương ứng 26.477 VND/USD và 23.955 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết tiếp đà hạ nhiệt, còn 24.006 - 26.426 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm 32 đồng, USD “chợ đen” vẫn giữ sức nóng

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại tuần ở mức 25.216 VND/USD, tức giảm 32 đồng so với tuần trước.

Trong báo cáo thị trường tài chính tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, trong hai ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước đã bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/9: Tỷ giá hạ áp sau khi bán 1,5 tỷ USD kỳ hạn, kỳ vọng Fed hạ lãi suất. Ảnh minh hoạ.

Quan sát diễn biến tỷ giá tuần qua tại các ngân hàng thương mại, nhiều nhà băng hạ mạnh chiều bán, song đều tăng chiều mua vào. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD nhích nhẹ ở chiều mua vào (tăng 6 đồng) trong khi chiều bán ra lại giảm 34 đồng, niêm yết ở 26.166 - 26.476 VND/USD. Diễn biến tại BIDV cũng đồng pha, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.208 - 26.476 VND/USD, tương ứng chiều mua vào tăng mạnh 68 đồng, trong khi bán ra giảm 24 đồng.

Tính chung tuần qua 8 - 12/9, sức nóng trên thị trường ngoại hối hạ nhiệt rõ rệt, tỷ giá trung tâm giảm liên tiếp, không phiên nào điều chỉnh tăng, khép lại ở 25.216 VND/USD. Tại ngân hàng, USD được hạ mạnh chiều bán nhưng tăng chiều mua, trong khi thị trường tự do vẫn tăng 50 đồng hai chiều, lên 26.850 - 26.950 VND/USD.

Diễn biến ở thị trường tự do lại trái chiều, nối dài 6 tuần tăng liên tiếp. Trong đó, phiên đầu tuần bật lên 26.915-27.015 VND/USD, tăng 115 đồng, vượt 27.000 đồng.

Sau khi tăng nóng, tỷ giá "chợ đen" có ba phiên đứng yên và một phiên hạ nhiệt. So với tuần trước (180 đồng), mức tăng tuần thấp hơn rõ rệt (50 đồng), nhưng vẫn cho thấy sức nóng trên thị trường phi chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,5 điểm. Đà suy yếu của bạc xanh xuất phát từ số đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tăng mạnh và lạm phát nhích nhẹ, làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp tới.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank lại ghi nhận mức tăng mạnh cả hai chiều, mua vào vọt lên 30.174,79 VND/EUR (tăng 196,6 đồng) và bán ra 31.765,43 VND/EUR (tăng 206,9 đồng). Tại BIDV cũng lên 30.570 - 31.712 VND/EUR (tăng 243 đồng chiều mua và 141 đồng chiều bán).

Tỷ giá GBP còn nổi bật hơn khi leo lên 34.908,09 - 36.389,72 VND/GBP tại Vietcombank, tăng tương ứng 337,2 đồng chiều mua và 351,5 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, thể hiện đà tăng quyết liệt của bảng Anh. Tại BIDV, mức tăng tới 334 đồng chiều mua và 208 đồng chiều bán.

Fed trước áp lực giảm lãi suất, kỳ vọng tỷ giá bớt căng

Chia sẻ tại Data Talk với chủ đề: "Số liệu vĩ mô tháng 8 và ấn số từ Fed" vừa diễn ra, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, Mỹ là nền kinh tế cần được theo dõi sát bởi câu chuyện lãi suất và diễn biến kinh tế. Vừa qua, điểm nhấn rõ nét nhất chính là lo ngại thị trường lao động "đổ vỡ" và cần sự hỗ trợ kịp thời của Fed.

Tâm lý thị trường đã xoay chuyển mạnh, đẩy kỳ vọng Fed giảm lãi suất 3 lần liên tiếp trong các tháng 9, 10 và 12, tổng cộng 0,75% năm nay. Sang năm 2026, thị trường còn kỳ vọng Fed tiếp tục hạ thêm 0,75%, tức tổng cộng 6 lần giảm trong 2 năm, đưa lãi suất về mức 2,75 - 3%. Dẫu vậy, bức tranh kinh tế Mỹ còn nhiều biến số khó lường tác động đến tiến trình hạ lãi suất.

Về mối lo làn sóng lạm phát lần thứ hai xảy đến đẩy nền kinh tế Mỹ bước vào đình lạm, ông Báu cho rằng, điều này gần như không có khả năng xảy ra, bởi giá nhà, giá thuê nhà đang sụt giảm, lạm phát không phải mối lo ngại quá lớn. Đồng thời, bảo lưu quan điểm lạm phát của Mỹ sẽ sớm ổn định, tiệm cận mốc 3 - 3,1% và sau đó suy giảm những năm sau.

Giảm lãi suất nhanh chưa chắc tốt

"Có một điểm cũng cần phải lưu ý, Fed chỉ giảm lãi suất nhiều nếu thị trường lao động Mỹ chịu tác động rất tiêu cực, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới sức cầu nền kinh tế Mỹ và từ đấy, ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, hãy cẩn thận khi Fed giảm lãi suất quá nhiều" - ông Linh lưu ý.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) bổ sung, hiện không chỉ nhà đầu tư quốc tế mà cả nhà đầu tư Việt Nam đều kỳ vọng Fed giảm lãi suất nhiều hơn 2 - 3 lần trong năm nay.

MBS cũng cho rằng, theo công cụ FedWatch của Sở Giao dịch hàng hóa Chicago (CME), thị trường đang định giá khoảng 90% Fed sẽ giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Chỉ số DXY cũng suy giảm trong bối cảnh rủi ro đối với thị trường lao động ngày càng gia tăng, khi cả phía cung và cầu lao động đều có dấu hiệu suy yếu đáng kể. Đồng USD được dự báo sẽ duy trì đà giảm về cuối năm khi Fed được dự đoán sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất.

Tương tự, giá bán USD tại các ngân hàng thương mại cũng hạ 34
Nguồn: MBS.

Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá. "Chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS đánh giá./.

Hút ròng nhẹ hơn 2.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng ít biến động

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở tuần qua, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 64.002,32 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 66.205,86 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 2.203,54 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Chỉ còn 148.735,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng USD có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 11/9 nhích nhẹ 13 điểm cơ bản lên 4,07%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần duy trì đà giảm, lần lượt về 4,23% và 4,51%, thấp hơn 3 - 8 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm mạnh nhất, mất 27 điểm cơ bản, xuống 4,91%. Kỳ hạn 3 tháng 5,5%, giảm nhẹ 3 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80