Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần đầu tháng 9/2025 cho thấy nhiều diễn biến trái chiều khi tỷ giá chính thức ổn định, với nhiều ngân hàng hạ nhiệt, nhưng thị trường tự do biến động mạnh với giá bán ra vọt lên 26.900 VND/USD. Cùng lúc, lãi suất qua đêm gần chạm 5% và Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Tỷ giá "bớt nóng" khi Ngân hàng Nhà nước bán USD kỳ hạn, song áp lực dài hạn chưa nguôi

Ngày 5/9, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố vẫn giữ nguyên ở mức 25.248 VND/USD, không thay đổi so với phiên trước đó. Với biên độ 5% được áp dụng, tỷ giá trần và sàn lần lượt ở mức 26.510 VND/USD và 23.986 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết ở mức 24.036 - 26.460 VND/USD (mua vào - bán ra).

Thị trường chính thức ổn định, chợ đen vọt lên 26.900 VND/USD

Tại nhiều ngân hàng thương mại, nhiều ngân hàng giữ nguyên hoặc giảm nhẹ tỷ giá niêm yết. Trên thị trường tự do, tỷ giá không thay đổi so với phiên trước, duy trì quanh 26.800 - 26.900 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng
Ảnh: T.L.

Tính chung tuần đầu tháng 9/2025, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng nhẹ 8 đồng so với cuối tuần trước, sau khi đã giảm mạnh 58 đồng trong tuần cuối tháng 8 nhờ động thái can thiệp bán ngoại tệ kỳ hạn của nhà điều hành.

Tuần đầu tháng 9/2025, tỷ giá trung tâm ổn định ở mức 25.248 VND/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, song thị trường ghi nhận biến động trái chiều tại các ngân hàng thương mại. Cùng với đó, tỷ giá thị trường "chợ đen" biến động mạnh hơn leo lên 26.900 VND/USD chiều bán ra. Trên thị trường pquốc tế, chỉ số DXY mất mốc 98 điểm, phản ánh xu hướng suy yếu của đồng bạc xanh.

Tại các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, tỷ giá USD được điều chỉnh tăng 28 đồng ở chiều mua vào và tăng 8 đồng ở chiều bán ra, lên 26.160 - 26.510 VND/USD. Ngược lại, tại BIDV, giá mua vào giảm 43 đồng, trong khi giá bán ra chỉ hạ nhẹ 2 đồng, còn 26.140 - 26.500 VND/USD.

Trái ngược với sự ổn định của kênh chính thức, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn, tỷ giá bán ra vọt lên 26.900 VND/USD ngày 4/9, tăng tới 180 đồng chỉ trong một tuần, cho thấy tâm lý găm giữ ngoại tệ vẫn hiện hữu trong khu vực phi chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, trải qua một tuần giảm điểm, mất mốc 98 và lùi về 97,94 điểm. Giới phân tích cho rằng đồng bạc xanh tiếp tục trong xu hướng suy yếu khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nhiều khả năng hạ lãi suất ngay trong tháng 9. Thêm vào đó, dữ liệu kinh tế và thị trường việc làm kém khả quan, cùng xu hướng nhà đầu tư rút bớt nắm giữ USD để chuyển sang vàng, càng làm gia tăng áp lực giảm giá lên đồng tiền này.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR ghi nhận biến động nhẹ so với những đợt tăng nóng hay giảm sốc các tuần trước đây. Theo đó, Vietcombank niêm yết 29.978 - 31.558 VND VND/EUR (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 33,2 - 34,9 đồng; trong khi BIDV giảm 49 đồng ở chiều mua về 30.327 đồng nhưng giữ nguyên chiều bán 31.571 đồng.

Còn về tỷ giá GBP, Vietcombank hạ mạnh giá mua - bán, xuống 34.571 - 36.038 VND/GBP, giảm tương ứng 69,4 - 72,4 đồng. Trái lại, BIDV chỉ giảm 38 đồng ở chiều mua, nhưng lại tăng 18 đồng ở chiều bán, niêm yết ở 35.052 - 36.027 VND/GBP.

Tỷ giá JPY gần như đi ngang, biên độ biến động nhỏ 1 - 2 đồng. Vietcombank mua vào 171,79 VND và bán ra 182,7 VND, giảm nhẹ 1,1 - 1,2 đồng. BIDV cũng ghi nhận mức giảm tương tự, lần lượt 1,8 - 1,6 đồng, với giá mua 174,44 đồng và bán 182,15 đồng.

Hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng bật tăng quanh 5 - 6%

Theo nhận định của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), những tháng cuối năm, các nền kinh tế lớn vẫn duy trì xu hướng nới lỏng tiền tệ. Trong đó, Fed được dự báo sẽ có một lần cắt giảm lãi suất trong nửa cuối năm 2025, nhiều khả năng vào tháng 9 tới, còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục theo đuổi kế hoạch đưa lãi suất về dưới 2%.

Nhận định đối sách làm giảm áp lực tỷ giá, nhóm phân tích VCBS cho rằng, việc sử dụng các công cụ điều tiết tiền tệ mới của Ngân hàng Nhà nước cùng kỳ vọng Fed giảm lãi suất trong tháng 9 sẽ giảm bớt áp lực lên thị trường liên ngân hàng khi công cụ tín phiếu đang ngày trở nên kém hiệu quả hơn. Từ đó, tạo ra dư địa cho Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì chính sách lãi suất thấp cho tới cuối năm.

Cũng theo Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank, áp lực lên tỷ giá vẫn hiện hữu do nhập khẩu theo mùa gia tăng, giải ngân vốn FDI chậm và rủi ro thâm hụt cán cân thương mại ngày càng lớn.

Dù vậy, áp lực này được kỳ vọng sẽ dần hạ nhiệt khi chỉ số DXY tiếp tục xu hướng giảm cùng kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất trong tháng 9. Ngoài ra, những tiến triển trong việc hoàn tất thỏa thuận thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam sẽ cải thiện tâm lý nhà đầu tư về triển vọng kinh tế - thương mại.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/9: Tỷ giá chợ đen áp sát 27.000 đồng, hút ròng gần 31 nghìn tỷ đồng. Ảnh: T.L.

Trên thị trường mở tuần qua, ở kênh cầm cố, do có 2 ngày nghỉ đầu tuần, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 49.429,11 tỷ đồng ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, với lãi suất 4%; trong khi đó, có tới 80.153,66 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu từ cuối tháng 7 tới nay.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh 30.724,55 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Còn 150.939,15 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tuần đầu tháng 9/2025, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận biến động đáng chú ý với xu hướng hạ nhiệt ở một số kỳ hạn ngắn, trong khi kỳ hạn dài giữ tương đối ổn định.

Cụ thể, ngày 5/9, lãi suất qua đêm giảm xuống còn 4,7%, thấp hơn mức 4,99% ghi nhận ngày 3/9, song vẫn cao hơn nhiều so với cuối tháng 8 (2,03%). Như vậy, lãi suất qua đêm tăng mạnh 2,67%, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn trên hệ thống còn căng thẳng. Trong khi đó, kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng lần lượt 0,96% và 0,29% lên 4,8% và 5,13%, còn kỳ hạn 1 tháng giảm 0,24% xuống 4,87%. Riêng kỳ hạn 3 tháng gần như đi ngang, chỉ tăng 0,04%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,250 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,260 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80