Mặt bằng lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã về vùng trước dịch Covid-19

Hải Băng
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục bật tăng ở các ngân hàng thương mại sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất điều hành. Hiện tại, mặt bằng lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã về lại vùng trước dịch Covid-19, hoặc thậm chí cao hơn, với mức tăng trung bình 300 - 400 điểm cơ bản so với cuối năm 2021.
aa

Lãi suất điều hành cao hơn khoảng 50 - 100 điểm cơ bản

Báo báo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research cho biết, trong tuần trước, thanh khoản trên hệ thống ngân hàng cải thiện và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng linh hoạt các nghiệp vụ thị trường mở nhằm điều tiết trạng thái thanh khoản ở mức phù hợp. Khối lượng tín phiếu phát hành mới đạt 73,1 nghìn tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày và phương thức đầu thầu tín phiếu duy trì là đấu thầu khối lượng với lãi suất trúng thầu ở 6%/năm (tăng 1% so với tuần trước đó). Nghiệp vụ mua kỳ hạn cũng được sử dụng, với 37 nghìn tỷ đồng được bơm mới ở kỳ hạn 7 ngày và lãi suất 6%.

Kết tuần, với lượng tín phiếu đáo hạn lớn, NHNN đã bơm ròng 46,6 nghìn tỷ đồng thông qua hoạt động OMO (thị trường mở). Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm cũng nhích tăng nhẹ lên 4,79% (+15 điểm cơ bản).

Mặt bằng lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã về vùng trước dịch Covid-19
Không chỉ tăng lãi suất, các ngân hàng còn đẩy mạnh chương trình khuyến mại, cộng thêm lãi suất để thu hút dòng tiền nhàn rỗi từ dân cư.

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá gia tăng khi các yếu tố trong và ngoài nước đều không thuận lợi, NHNN đã thực hiện tăng lãi suất điều hành thêm 100 điểm cơ bản trước kỳ họp của FED vào tháng 11 trong ngày 24/10. Với mức điều chỉnh kể trên, mặt bằng lãi suất đã cao hơn thời điểm trước Covid-19 khoảng 50 - 100 điểm cơ bản.

“Việc tăng lãi suất này không gây quá nhiều bất ngờ cho thị trường, tuy nhiên diễn biến lãi suất huy động ở các ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần vẫn còn khá phức tạp” - các chuyên gia của SSI Research cho hay.

Các NHTM trong hệ thống đều đã đồng loạt điều chỉnh tăng 30 - 100 điểm cơ bản tùy kỳ hạn, trong đó kỳ hạn dưới 6 tháng ở hầu hết các NHTM cổ phần đã đẩy lên mức trần 6%. Không chỉ tăng lãi suất, các ngân hàng còn đẩy mạnh chương trình khuyến mại, cộng thêm lãi suất để thu hút dòng tiền nhàn rỗi từ dân cư. “Tính đến hiện tại, mặt bằng lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã về lại vùng trước Covid-19, hoặc thậm chí cao hơn, với mức tăng trung bình 300 - 400 điểm cơ bản so với cuối năm 2021” - SSI Research nhấn mạnh.

Về tăng trưởng tín dụng, số liệu mới cập nhật từ NHNN cho thấy, tính đến ngày 20/10 và so với cuối năm 2021, tín dụng tăng 11,38%, cung tiền M2 tăng 3,09% và huy động vốn tăng 4,8%. Như vậy, chênh lệch huy động - tín dụng vốn đã rơi vào trạng thái âm kể từ tháng 7 và phần nào có sự cải thiện nhẹ (mặc dù chưa quá rõ ràng), sau khi mặt bằng lãi suất huy động đã tăng mạnh trong 2 tháng qua. Trong cuộc họp thường kỳ của Chính phủ, NHNN cũng cho biết diễn biến huy động vốn và tín dụng trong năm 2022 đã đặt ra thách thức đối với hệ số sử dụng vốn của hệ thống ngân hàng rất cao, gây quan ngại về thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Do vậy, “việc NHNN điều chỉnh các mức lãi suất điều hành trong tháng 9 và tháng 10 là phù hợp nhằm bảo đảm cho các tổ chức tín dụng có khả năng huy động thêm được nguồn vốn để bảo đảm an toàn thanh khoản và có điều kiện để cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế” - chuyên gia của SSI Research bình luận.

Tỷ giá USD/VND vẫn duy trì ở mức cao

Trong tuần qua, diễn biễn trên thị trường tài chính toàn cầu khá tích cực với việc các chỉ số chứng khoán lớn đều ghi nhận mức tăng tốt.

Trên thị trường ngoại hối trong nước, trái ngược với diễn biến quốc tế, tỷ giá USD/VND vẫn chưa có nhiều sự cải thiện ngay cả khi NHNN tăng lãi suất điều hành.

Báo cáo của SSI Research cho biết, đối với dữ liệu kinh tế, báo cáo sơ bộ cho thấy GDP của Mỹ quý III tăng 2,6% so với quý II (đã chuẩn hóa về năm) và chấm dứt đà suy giảm liên tiếp trong 2 quý đầu năm 2022. Đáng chú ý hơn hết, là thị trường hiện đang định giá về việc FED có thể sẽ bắt đầu giảm tốc tốc độ tăng lãi suất kể từ kỳ họp tháng 12 năm nay (chỉ tăng 50 điểm cơ bản, và thêm một lần tăng 25 điểm cơ bản vào quý I/2023). Trong khi đó, như kỳ vọng, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục tăng lãi suất cơ sở thêm 75 điểm cơ bản trong kỳ họp vừa qua.

Điều đó đã giúp chỉ số DXY giảm 0,9% so với tuần trước và các đồng tiền chủ chốt khác đều tăng giá so với USD như: GBP +1,87%, EUR +0,83% và JPY +0,1%. Các đồng tiền mới nổi trong khu vực châu Á cũng có sự cải thiện, như THB +1,32%, KRW +1,29%, MYR +0,26%, INR +0,26%, ...

Trên thị trường ngoại hối trong nước, trái ngược với diễn biến quốc tế, tỷ giá USD/VND vẫn chưa có nhiều sự cải thiện ngay cả khi NHNN tăng lãi suất điều hành. Diễn biến này chủ yếu là do tác động bởi tâm lý kỳ vọng và điều này khó có thể giải quyết ngay lập tức.

Mặt bằng lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã về vùng trước dịch Covid-19

Tỷ giá niêm yết tại các NHTM vẫn duy trì ở mức kịch trần biên độ mới (5%) so với tý giá trung tâm, quanh mốc 24.880 đồng/USD (tương đương mất giá 8,5% so với cuối năm ngoái). Tỷ giá liên ngân hàng ghi nhận ở gần mức giá bán của NHNN (23.870 đồng) và tỷ giá trên thị trường tự do duy trì trên 25.000 đồng/USD xuyên suốt tuần.

Chuyên gia của SSI Research cho biết, các yếu tố cơ bản trong nước vẫn ghi nhận tích cực (giải ngân FDI tăng trưởng tốt trong 10 tháng 2022 hay cán cân thương mại thặng dư 9,4 tỷ USD). Theo đó, về cung ứng ngoại tệ, NHNN cũng cam kết đảm bảo cung ứng trong nước nhằm ổn định sản xuất trong nước. Riêng 9 tháng đầu năm, đối với một số doanh nghiệp xăng dầu như Nghi Sơn, Bình Sơn, Tập đoàn Xăng dầu… lượng ngoại tệ bán ra lên đến 10 tỷ USD cho các doanh nghiệp này./.

Hải Băng

Đọc thêm

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 14/09/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 14/09/2026 04:00
Ngân hàng