Một số nước giảm lãi suất và động thái thị trường trong nước

Chí Tín
(TBTCO) - Thời gian qua, một số ngân hàng trung ương trên thế giới đã rục rịch hạ lãi suất và điều này có thể mở đầu cho xu hướng giảm lãi suất trên toàn cầu, cho dù Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vẫn chưa có động thái tham gia xu hướng này. Đây có thể là một yếu tố thuận lợi cho thị trường tiền tệ, đặc biệt với quan điểm duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ nền kinh tế của Việt Nam.
aa
Một số nước giảm lãi suất và động thái thị trường trong nước
Một số nước giảm lãi suất và động thái thị trường trong nước

Khởi đầu các động thái giảm lãi suất

Thời gian qua, Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ (SNB) là một trong những ngân hàng “tiên phong” cho một hành động có tính chất có thể dẫn đến một giai đoạn đoạn mới đảo ngược xu thế tăng lãi suất trên toàn cầu kéo dài suốt giai đoạn 2022 – 2023.

Theo đó, ngân hàng này đã điều chỉnh giảm 0,25% vào hồi tháng 3/2024 và thậm chí thị trường dự đoán sẽ có thêm một đợt hạ lãi suất nữa vào tháng 6 tại Thụy Sỹ.

Điều đáng chú ý là SNB có thể không phải là kẻ lạc lõng trong cuộc chơi trên thị trường tài chính toàn cầu, bởi tiếp bước theo SNB, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Riksbank) cũng đã hạ lãi suất từ 4% xuống 3,75% và cho biết sẽ cắt giảm thêm nếu lạm phát duy trì ở mức vừa phải.

Những động thái của một số ngân hàng trung ương cho thấy, thái độ của nhiều nước đã tỏ ra không còn chịu ảnh hưởng từ hành động của FED. Bởi lẽ, FED đến nay vẫn chưa phát đi tín hiệu nào cho thấy sẽ hạ lãi suất, ít nhất cho tới giữa năm 2024. Công cụ FEDWatch đo lường hành động của FED cho thấy có tới 96,5% khả năng FED sẽ vẫn giữ nguyên lãi suất vào cuộc họp sẽ diễn ra ngày 12/6 tới.

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng hé lộ quan điểm cho biết có thể sẽ hạ lãi suất vào tháng 6, khi lạm phát đang ở gần mục tiêu 2% và tăng trưởng chậm. Thị trường dự đoán ECB sẽ hạ lãi suất 3 lần trong năm nay và điều đáng chú ý là ngân hàng này bày tỏ quan điểm là họ sẽ có những hành động riêng mà không lệ thuộc vào hành động của FED.

Những tác động ngắn và dài

-1359-1695705871.jpg

Động thái của một số ngân hàng trung ương trên thế giới phần nào đang mở ra một chu kỳ mới của thị trường tiền tệ thế giới từ xu hướng thắt chặt tiền tệ, kéo dài trong các năm 2022 – 2023, sang giai đoạn nới lỏng dần. Động thái này nếu diễn ra sớm sẽ là yếu tố thuận lợi cho thị trường tiền tệ trong nước, bởi trong suốt 2 năm qua, thị trường Việt Nam phải chèo lái trong một xu hướng "lội ngược dòng" - có nghĩa là Việt Nam duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích tăng trưởng, trong khi rất nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát.

Đánh giá về tác động của các diễn biến này đối với thị trường tiền tệ trong nước, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, động thái giảm lãi suất của một số nước có thể giúp chính sách tiền tệ trong nước sẽ “dễ thở” hơn. Tuy nhiên, ông Huân cũng cho rằng, vấn đề lớn của Việt Nam chủ yếu là câu chuyện với đồng USD là chính, trong khi mức độ giảm lãi suất tuy có xuất hiện một vài nơi những cũng chỉ ở mức nhẹ và cần phải quan sát diễn biến tiếp theo.

Phân tích kỹ hơn về những ảnh hưởng có thể có, ông Huân cho biết, việc giảm suất của một số quốc gia về ngắn hạn làm cho đồng tiền các nước đó giảm giá trên thị trường quốc tế và vì thế hàng hóa của các doanh nghiệp từ nước ngoài – trong đó có Việt Nam - xuất khẩu vào các thị trường sẽ có giá đắt hơn sau khi quy đổi tỷ giá. Tuy nhiên về dài hạn, động thái này cũng có tác dụng kích thích tiêu dùng tại các quốc gia đó từ đó về mặt trung hạn cũng là yếu tố tích cực cho giao lưu thương mại.

Ngoài ra, yếu tố giá đồng USD có thể tăng trong bối cảnh FED chưa hạ lãi suất trong khi một số số nước châu Âu hạ lãi suất trước có thể tác động ra sao đến tỷ giá của đồng Việt Nam? Theo ông Huân, điều này liên quan đến quan điểm điều hành của Việt Nam trong việc có cần neo tỷ giá theo đồng USD hay không. Theo đó, nếu Việt Nam neo giá đồng Việt Nam theo đồng USD thì tỷ giá VND/USD giữ ổn định, nhưng sẽ làm cho đồng tiền Việt Nam tăng giá so với một số quốc gia châu Âu dẫn đến hàng Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu gặp khó hơn.

Trong khi đó, Việt Nam để đồng tiền của mình mất giá theo các đồng tiền châu Âu thì cũng sẽ làm tỷ giá so với USD tăng và thực tế cho thấy tỷ giá đã có xu hướng tăng thời gian qua. Việc này diễn ra trong một mức độ vừa phải cũng không có nhiều ảnh hưởng lớn, nhưng nếu tỷ giá VND/USD tăng quá mức cũng có thể có những tác động khác nhau đến kinh tế vĩ mô.

Nói về ý nghĩa của việc giữ tỷ giá VND/USD ổn định, ông Michael Kokalari - Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital cho biết, trong những năm gần đây (đặc biệt là vào năm 2022), Ngân hàng Nhà nước đã có những động thái cho thấy vẫn muốn giữ tỷ giá VND/USD ở mức ổn định. “Có lẽ việc này xuất phát từ quan điểm muốn sự ổn định của tỷ giá hối đoái sẽ khuyến khích đầu tư FDI, từ đó hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế lâu dài của Việt Nam” - ông Kokalari đưa ra bình luận.

Chỉ số DXY đã chững lại đà tăng

Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD đã có một chu kỳ tăng mạnh từ đầu năm 2024 và đạt đỉnh hơn 106 điểm vào cuối tháng 4/2024. Tuy nhiên, chỉ số này đã có tín hiệu chững lại đà tăng và điều chỉnh giảm nhẹ từ đầu tháng 5/2024 đến nay. Tại thời điểm sáng ngày 14/5 theo giờ Việt Nam, chỉ số này ghi nhận ở mức 105,28 điểm.

Chí Tín

Đọc thêm

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

(TBTCO) - Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, OCB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.470 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ. Kết quả được hỗ trợ bởi nguồn thu ngoài lãi tăng 78%, trong khi lãi thuần duy trì đà tăng nhờ tín dụng tiếp tục mở rộng. Dư nợ thị trường 1 của OCB đạt 227.554 tỷ đồng, cao hơn mức tăng toàn ngành.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,510 ▲150K 14,210 ▲150K
Trang sức 99.99 13,520 ▲150K 14,220 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 ▲15K 14,322 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 ▲15K 14,323 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 ▲15K 1,427 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 ▲15K 1,428 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▲15K 1,407 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▲1485K 139,307 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▲86410K 105,686 ▲95230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▲1021K 95,836 ▲1021K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▲68659K 85,986 ▲77479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▲874K 82,186 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▲626K 58,828 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17901 18175 18750
CAD 18206 18482 19099
CHF 31911 32292 32926
CNY 0 3850 3942
EUR 29601 29822 30900
GBP 34527 34919 35856
HKD 0 3217 3419
JPY 156 160 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15685
SGD 19910 20192 20767
THB 701 764 817
USD (1,2) 25993 0 0
USD (5,10,20) 26034 0 0
USD (50,100) 26063 26072 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,079 26,079 26,459
USD(1-2-5) 25,036 - -
USD(10-20) 25,036 - -
EUR 29,652 29,676 30,995
JPY 159.2 159.49 169.11
GBP 34,708 34,802 36,012
AUD 18,112 18,177 18,863
CAD 18,393 18,452 19,128
CHF 32,159 32,259 33,217
SGD 20,036 20,098 20,892
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.9 17.62 19.17
THB 749.01 758.26 811.76
NZD 15,084 15,224 15,676
SEK - 2,705 2,800
DKK - 3,977 4,117
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,006.63 - 6,778.77
TWD 731.72 - 886.37
SAR - 6,876.19 7,242.45
KWD - 83,066 88,376
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,070 26,095 26,475
EUR 29,717 29,836 31,032
GBP 34,756 34,896 35,929
HKD 3,283 3,296 3,413
CHF 32,055 32,184 33,119
JPY 159.63 160.27 168.23
AUD 18,136 18,209 18,807
SGD 20,126 20,207 20,801
THB 767 770 806
CAD 18,421 18,495 19,078
NZD 15,183 15,730
KRW 17.52 19.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26460
AUD 18092 18192 19118
CAD 18382 18482 19498
CHF 32136 32166 33752
CNY 3830.5 3855.5 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34817 34867 36628
HKD 0 3355 0
JPY 159.91 160.41 170.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15199 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20069 20199 20925
THB 0 730.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80