Năm 2022, Agribank trả lại tiền thừa cho khách hàng trên 103 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2022, hoạt động tiền tệ - kho quỹ trong toàn hệ thống Agribank tiếp tục đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, đảm bảo an toàn tài sản, đóng góp tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tiền giả.
aa

Đặc biệt, toàn hệ thống Agribank đã trả lại tiền thừa cho khách hàng với 27.651 món với tổng số tiền là trên 103 tỷ đồng. Trong đó, trả lại cho khách hàng là cá nhân gồm 26.448 món với số tiền là trên 100,984 triệu đồng, trả lại cho pháp nhân 1.203 món với số tiền trên 2,305 triệu đồng.

Trong những năm qua, công tác tiền tệ - kho quỹ tại các chi nhánh trong toàn hệ thống Agribank đã được thực hiện đúng quy định và đạt được những kết quả đáng khích lệ, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền mặt của khách hàng về số lượng và cơ cấu mệnh giá. Công tác kiểm đếm, thu chi, đóng gói, giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá được thực hiện đúng quy định, đảm bảo an toàn kho quỹ ngân hàng, đóng góp tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tiền giả và trả lại tiền thừa cho khách hàng.

Năm 2022, Agribank trả lại tiền thừa cho khách hàng trên 103 tỷ đồng
Chị Nguyễn Thị Nhung - Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn trả lại 2 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng. Ảnh: NĐ

Năm 2022, tình hình tội phạm “làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả” trên địa bàn cả nước nói chung diễn biến phức tạp. Tiền giả và nạn lưu hành trái phép tiền giả đã ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, đời sống của nhân dân, gây khó khăn trong hoạt động giao dịch tiền mặt của ngành ngân hàng nói chung và Agribank nói riêng. Chỉ tính riêng trong năm 2022, toàn hệ thống Agribank đã thu giữ 1.017 tờ tiền giả với tổng số tiền là 381,33 triệu đồng nộp về Ngân hàng Nhà nước theo đúng quy định.

Agribank với số lượng điểm giao dịch lớn, lên tới gần 2.300 chi nhánh, phòng giao dịch có mặt khắp mọi vùng, miền, đồng thời là ngân hàng thương mại duy nhất có mặt tại 9/13 huyện đảo. Bên cạnh đó, Agribank là ngân hàng của "tam nông", luôn nhận được sự tin yêu của đông đảo khách hàng, đặc biệt khách hàng khu vực nông thôn, nông dân. Mỗi giao dịch viên Agribank giao dịch với từ 130 đến 150 khách hàng/ngày, trong đó có tới 40-60% số lượng khách hàng giao dịch tiền mặt. Các giao dịch viên, thủ quỹ, kiểm ngân của Agribank vẫn luôn đáp ứng yêu cầu công việc, đảm bảo công tác thu chi tiền mặt an toàn tuyệt đối về tài sản của ngân hàng và khách hàng.

Phát huy phẩm chất cao quý, trung thực, liêm khiết của người cán bộ ngân hàng, đội ngũ cán bộ giao dịch viên, thủ kho tiền, thủ quỹ, kiểm ngân trong hệ thống Agribank đã luôn tạo được lòng tin trong giao dịch tiền mặt với khách hàng. Trong quá trình thu chi tiền mặt xác định được các trường hợp thừa tiền, Agribank đã tiến hành trả lại cho khách hàng kịp thời.

Năm 2022, Agribank trả lại tiền thừa cho khách hàng trên 103 tỷ đồng
Cán bộ Agribank luôn tận tâm và trách nhiệm với công việc. Ảnh: NĐ

Các chi nhánh trả lại cho khách hàng số tiền lớn trong năm 2022 như: Chi nhánh tỉnh Hải Dương trả lại cho khách hàng 3.466 món tiền thừa với tổng số tiền trên 10 tỷ đồng; Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp trả lại cho khách hàng 1.102 món với tổng số tiền 3,891 tỷ đồng; Chi nhánh Bắc Thái Bình trả lại cho khách hàng 37 món với tổng số tiền 3,820 tỷ đồng; Chi nhánh tỉnh Sơn La trả lại cho khách hàng 1.083 món với tổng số tiền 3,807 tỷ đồng; Chi nhánh Đồng Nai trả lại cho khách hàng 731 món với tổng số tiền 3,743 tỷ đồng; Chi nhánh Bắc Giang trả lại cho khách hàng 366 món với tổng số tiền 3,199 tỷ đồng; Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn trả lại cho khách hàng 202 món với tổng số tiền 2,451 tỷ đồng.

Cán bộ trả tiền thừa cho khách hàng những món tiền lớn: nhân viên (NV) Phan Thị Diệp - Chi nhánh Bắc Thái Bình trả lại số tiền thừa cho khách hàng lên tới 2 tỷ đồng, NV Nguyễn Thị Nhung - Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn trả lại 2 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng, NV Lê Na - Chi nhánh Nam Đà Nẵng trả lại cho khách hàng 636 triệu đồng tiền thừa, NV Đào Thị Thu Thảo - Chi nhánh Tây Bình Phước trả lại cho khách hàng 500 triệu đồng tiền thừa, NV Ngô Thị Ánh Tuyết - Chi nhánh tỉnh Đồng Nai trả lại cho khách hàng 500 triệu đồng tiền thừa…

Cán bộ trả nhiều món tiền thừa cho khách hàng phải kể đến như: NV Đồng Trọng Huy - Trung tâm Ngân quỹ Miền Bắc trả lại tiền thừa cho khách hàng tới 371 món với số tiền 39 triệu đồng; NV Trần Văn Hòa - Chi nhánh tỉnh Hải Dương trả lại 192 món tiền thừa cho khách hàng với số tiền 516 triệu đồng; NV Trần Thị Kim Oanh - Chi nhánh Sài Gòn trả lại cho khách hàng 179 món tiền thừa với số tiền 205 triệu đồng; NV Nguyễn Lê Phước Thiện - Chi nhánh tỉnh Đồng Nai trả lại cho khách hàng 166 món với số tiền 271 triệu đồng; NV Võ Thị Bích - Chi nhánh tỉnh An Giang trả lại cho khách hàng 166 món với số tiền 616 triệu đồng; NV Lê Thị Kim Thảo - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp trả lại cho khách hàng 146 món với số tiền 440 triệu đồng...

Hoạt động kịp thời trả lại tiền thừa cho khách hàng của đội ngũ người lao động làm công tác giao dịch viên, thủ kho, thủ quỹ, kiểm ngân trong hệ thống Agribank đã thể hiện phẩm chất đạo đức trong sạch, và nét đẹp văn hóa Agribank, góp phần tô đậm thêm truyền thống tốt đẹp của ngành, được đông đảo khách hàng trân trọng và tiếp tục gửi trọn niềm tin và đồng hành cùng với Agribank./.

Ngọc Đức

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18913
CAD 18344 18620 19238
CHF 31601 31981 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29671 29893 30970
GBP 34618 35010 35945
HKD 0 3207 3409
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15074 15665
SGD 19946 20228 20798
THB 706 769 823
USD (1,2) 25915 0 0
USD (5,10,20) 25955 0 0
USD (50,100) 25984 25998 26365
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18242 18342 19265
CAD 18527 18627 19641
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.1 3847.1 3982.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29850 29880 31605
GBP 34915 34965 36723
HKD 0 3330 0
JPY 160.46 160.96 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15183 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20958
THB 0 735.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14700000
SBJ 12500000 12500000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,410
USD20 25,990 26,090 26,809
USD1 24,301 26,090 26,859
AUD 18,335 18,435 19,562
EUR 29,706 29,806 31,494
CAD 18,494 18,594 19,921
SGD 20,212 20,362 20,947
JPY 161.36 162.86 168.59
GBP 34,909 35,059 36,160
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80