Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/10:

Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái hút mạnh tiền trên thị trường mở

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn tiếp tục duy trì trạng thái hút mạnh tiền trên thị trường mở, mặt bằng lãi suất tín phiếu có xu hướng tăng vào cuối tuần. Trên thị trường vàng, giá vàng trong nước và thế giới đều có xu hướng tăng trong tuần...
aa

Tiếp tục hút tiền qua thị trường mở

NHNN tiếp tục kéo dài các đợt phát hành tín phiếu để hút mạnh dòng tiền trên thị trường mở và ghi nhận chuỗi 5 tuần liên tiếp bán ròng tín phiếu.

Tổng lượng tín phiếu được NHNN bán ròng trên thị trường mở là 55 nghìn tỷ đồng và thực hiện trong tất cả các ngày trong tuần. Trong các ngày từ 16 đến 18/10, lãi suất trúng thầu tín phiếu đều duy trì ở mức khoảng 1%/năm, tương đương với lãi suất của các đợt phát hành tín phiếu trong tuần trước. Tuy nhiên, lãi suất có xu hướng tăng trong 2 ngày cuối tuần lên mức 1,45%/năm.

Trong khi đó, khối lượng tín phiếu lại có xu hướng giảm qua từ ngày, trong ngày đầu tuần có tới gần 20 nghìn tỷ đồng được phát hành nhưng hôm cuối tuần thì khối lượng trúng thầu chỉ có hơn 1,6 nghìn tỷ đồng.

Hiện tại, thị trường mở vẫn là một công cụ để NHNN điều tiết thị trường tiền tệ. Trong đó, việc phát hành tín phiếu là động thái để NHNN hút bớt dòng tiền trên thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng), theo đó, khi NHNN vẫn tiếp tục hút tiền thể hiện dòng tiền tại hệ thống ngân hàng vẫn đang trong trạng thái dồi dào.

Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái hút mạnh tiền trên thị trường mở
Lãi suất tín phiếu có xu hướng tăng vào cuối tuần. Ảnh: T.L

Đề cao sự đóng góp của phụ nữ

Tuần qua, NHNN đã có tọa đàm trong đó đưa ra nội dung trọng tâm đề cao vai trò của phụ nữ trong việc tham gia mọi mặt hoạt động của ngành ngân hàng.

NHNN cho biết đã cơ bản đạt được các mục tiêu chính của Kế hoạch thực hiện bình đẳng giới ngành Ngân hàng giai đoạn 2021- 2030. Đồng thời, NHNN nói riêng và ngành ngân hàng nói chung cũng đã và đang nỗ lực để có những đóng góp tích cực hơn vào sự phát triển của phụ nữ Việt Nam thông qua các chương trình phối hợp với Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Ông Iain Grant Frew - Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam, cũng đã có những chia sẻ về bình đẳng giới trong lĩnh vực tài chính ở Vương quốc Anh. Theo đó, 35% quản lý cấp cao hàng đầu trong ngành ngân hàng tại Vương quốc Anh là phụ nữ. Từ năm 2016 đến 2021: 14% đến 22% phụ nữ tham gia ban điều hành; 23% đến 32% tham gia.

Tỷ giá vẫn có diễn biến tăng

Tuần qua, diễn biến tỷ giá vẫn theo xu hướng đi lên với mức tăng nhẹ qua từng phiên. Tỷ giá giá trung tâm mở đầu tuần mới với mức 24.077 VND/USD.

Sau đó, tỷ giá trung tâm tăng liên tục trong các ngày tiếp theo, lên mức 24.089 VND/USD vào ngày 17/10, tiếp tục tăng lên 24.093 VND/USD vào 18/10 và 24.096 VND/USD vào hôm 19/20. Cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ngày 20/10 là 24.100 VND/USD, tính chung cả tuần tăng 23 đồng mỗi Đô la.

Xuất khẩu có thể phục hồi vào quý IV

Quý IV là giai đoạn nhu cầu nhập khẩu tăng và đây là yếu tố tâm lý thường niên dễ gây áp lực lên tỷ giá. Tuy nhiên, sự phục hồi nhu cầu tiêu dùng của các nền kinh tế lớn trên thế giới có thể hỗ trợ cho sự phục hồi xuất khẩu của Việt Nam và đây có thể là yếu tố giúp cân bằng cung cầu ngoại tệ trong quý cuối năm.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá USD được Ngân hàng Vietcombank công bố tăng đều qua từng phiên và chỉ giảm nhẹ hôm cuối tuần. Cụ thể, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank hôm thứ hai ngày 16/10 ở mức 24.630 đồng/USD, sau đó tăng 3 phiên liên tục và đạt mức 24.710 đồng vào ngày 19/10. Phiên ngày thứ sáu 20/10, tỷ giá USD tại Vietcombank là 24.700, cao hơn 70 đồng mỗi Đô la so với hôm đầu tuần.

Mặc dù tỷ giá có xu hướng tăng trong những ngày gần đây, nhưng mức tăng của tỷ giá cũng không lớn. Hiện nay, giới kinh doanh cũng đặt mối quan tâm khá nhiều với tỷ giá vì xu hướng tỷ giá tăng thường diễn ra vào quý cuối năm. Tuy nhiên, hiện tại NHNN vẫn đang có nhiều công cụ có thể điều tiết tỷ giá, đặc biệt trong giai đoạn đầu năm 2023 NHNN cũng đã mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại tệ nên có nguồn ngoại tệ để có thể can thiệp thị trường ngoại hối nếu cần thiết.

Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái hút mạnh tiền trên thị trường mở
Giá vàng thế giới đã trải qua một chu kỳ tăng, nhưng lực tăng có thể giảm dần. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới vẫn giữ nhịp tăng

Giá vàng trong nước và thế giới đều vẫn có xu hướng tăng trong tuần. Tuy nhiên, tâm điểm của thị trường tuần này lại hướng ra thế giới với sức nóng gia tăng vào cuối tuần, trong khi giá vàng trong nước tuy có tăng nhưng đà tăng không còn mạnh mẽ như tuần trước.

Cụ thể tại thị trường trong nước, giá vàng SJC 9999 hôm thứ hai đầu tuần ghi nhận mức 69,86 triệu đồng mỗi lượng mua vào và 70,55 triệu đồng mỗi lượng. Cuối tuần, giá vàng SJC 9999 là 69,9 triệu đồng mỗi lượng mua vào và 70,62 triệu đồng mỗi lượng bán ra, cao hơn 70 đồng mỗi lượng so với đầu tuần và cao hơn 350 nghìn đồng mỗi lượng so với 1 tuần trước.

Tại thị trường thế giới, giá vàng mở đầu tuần ở mức 1.921 USD/ounce, sau đó duy trì biến động không lớn trong 3 ngày tiếp theo trước khi bùng nổ vào hôm thứ sáu ngày 20/10, vọt tăng lên mức 1.976,4 USD/ounce.

Các chuyên gia tài chính quốc tế cho rằng giá vàng đang tăng do ảnh hưởng từ chiến tranh Trung Đông, nhưng lực mua thể sẽ cạn dần sau một chu kỳ tăng.

Giá vàng vẫn chịu chi phối bởi chính sách lãi suất trên thế giới

Giá vàng thời gian qua tăng do ảnh hưởng của xung đột quân sự. Tuy nhiên, kim loại quý này vẫn còn chịu tác động bởi chính sách tiền tệ của các nước lớn và nếu lãi suất tiếp tục duy trì ở mức cao và kéo dài có thể sẽ là yếu tố bất lợi cho giá vàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD/ounce, lùi về quanh ngưỡng 4.508 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn. Riêng vàng nhẫn, DOJI và PNJ giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch quanh mức 157,5 - 160,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/5: Giá vàng trong nước lùi về vùng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/5: Giá vàng trong nước lùi về vùng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh ngưỡng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều tăng tại nhiều thương hiệu lớn, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 900.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa vàng miếng và vàng nhẫn phổ biến lùi về vùng 158,5 - 162 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới đảo chiều tăng lên quanh mốc 4.545 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80