Ngân hàng phải sớm chuyển đổi IFRS vì thời gian chuẩn bị dài hơn doanh nghiệp

Chí Tín
(TBTCO) - Lộ trình chuyển đổi báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) hiện đã đi qua được nửa chặng đường của giai đoạn tự nguyện (2022 - 2025). Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng thời gian thực hiện chuyển đổi, trong đó, các ngân hàng cũng là một trong những nhóm doanh nghiệp khá tích cực tự nguyện chuyển đổi. Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Đăng Phương - Giám đốc Dịch vụ kiểm toán và tư vấn chuyển đổi IFRS tại KPMG Việt Nam xung quanh thực tế chuyển đổi thời gian qua.
aa

PV: Qua quá trình tiếp xúc tư vấn doanh nghiệp, theo bà, những vấn đề gì doanh nghiệp đặt mối quan tâm đối với việc chuyển đổi sang áp dụng IFRS?

Bà Nguyễn Thị Đăng Phương: Doanh nghiệp có nhiều mối quan tâm đối với việc chuyển đổi IFRS như: lợi ích mà việc chuyển đổi này mang lại là gì, cân nhắc giữa lợi ích mang lại và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi này, khi nào nên công bố số liệu theo IFRS…

Ngân hàng phải sớm chuyển đổi IFRS vì thời gian chuẩn bị dài hơn doanh nghiệp
Bà Nguyễn Thị Đăng Phương

Ngoài ra, còn có ba mối quan tâm chính hiện nay. Đầu tiên phải kể đến là các phương pháp chuyển đổi IFRS. Hiện nay, một số doanh nghiệp áp dụng chuyển đổi hoàn toàn thủ công, một số doanh nghiệp áp dụng các công cụ bán thủ công cho các tính toán phức tạp và một số tương đối ít doanh nghiệp có đầu tư cho việc thực hiện chuyển đổi tự động.

Mối quan tâm thứ 2 là về dữ liệu. Do việc chuyển đổi IFRS đòi hỏi khối lượng dữ liệu tương đối lớn và khác biệt so với Chế độ Kế toán Việt Nam (VAS), các doanh nghiệp rất quan tâm tới mức độ đáp ứng từ kho dữ liệu hiện tại, cũng như làm thế nào để quản lý và xây dựng kho dữ liệu dành riêng cho mục tiêu IFRS trong tương lai.

Một vấn đề quan tâm lớn của doanh nghiệp là tác động của việc chuyển đổi, không chỉ là tác động đến khía cạnh báo cáo tài chính và thực hành kế toán, mà còn ảnh hưởng trên nhiều khía cạnh về hoạt động kinh doanh, hệ thống và quy trình, nhân sự và quản lý thay đổi. Nhằm có sự chuẩn bị sẵn sàng cho việc áp dụng IFRS, các doanh nghiệp cần tìm hiểu, đánh giá các khác biệt giữa báo cáo tài chính hiện tại và IFRS để từ đó, đánh giá cụ thể tác động của việc chuyển đổi và xây dựng lộ trình triển khai một cách toàn diện và hợp lý.

Ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp chuyển đổi

Mỗi phương pháp chuyển đổi đều có ưu điểm và nhược điểm do yêu cầu của từng phương pháp đối với hệ thống công nghệ thông tin và chi phí đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp, cũng như trình độ của đội ngũ nhân sự, kiến thức và kỹ năng khác nhau.

Phương pháp thủ công giúp tiết kiệm chi phí đầu tư, nhưng lại đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của đội ngũ nhân sự để tránh sai sót từ thao tác thủ công trong khi phương pháp sử dụng công cụ tính toán hay sử dụng hệ thống phần mềm đòi hỏi chi phí đầu tư cao hơn nhưng sẽ giúp giảm thiểu sai sót không đáng có.

PV: Được biết, các ngân hàng có vẻ là đối tượng khá tích cực trong việc chuyển đổi IFRS, thực tế chuyển đổi của ngân hàng như thế nào?

Bà Nguyễn Thị Đăng Phương: Có rất nhiều ngân hàng đã và đang thực hiện chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS. Số còn lại cũng đã và đang xây dựng kế hoạch để triển khai trong tương lai gần. Ngoài các nguyên nhân chung cho việc áp dụng IFRS của tất cả các doanh nghiệp, có nhiều lý do giải thích cho việc các ngân hàng tích cực áp dụng IFRS.

Chẳng hạn như việc có khá nhiều ngân hàng là doanh nghiệp niêm yết, thuộc đối tượng áp dụng tự nguyện trong giai đoạn hiện tại. Tiếp theo là đặc thù ngành Ngân hàng thường xuyên có giao dịch với các định chế tài chính nước ngoài và các đơn vị này đòi hỏi các ngân hàng phải có báo cáo tài chính theo IFRS. Thứ ba là do khác biệt giữa VAS và IFRS đối với ngành Ngân hàng là rất lớn, nên thời gian chuẩn bị và triển khai cũng cần dài hơn nên các ngân hàng phải thực hiện sớm hơn để có đủ thời gian hoàn thành và tinh chỉnh, để đảm bảo tính tuân thủ nhưng vẫn hoàn thành mục tiêu kinh doanh của mình.

PV: Ngân hàng có những đặc thù gì khác so với doanh nghiệp thông thường trong việc chuyển đổi IFRS, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Đăng Phương: Như vừa đề cập, đối với ngành Ngân hàng, sự khác biệt giữa chuẩn mực hiện tại và IFRS là rất lớn. Sự khác biệt lớn nhất giữa IFRS và VAS tập trung chủ yếu ở nhóm các chuẩn mực về công cụ tài chính (IFRS 9, IAS 32 và IFRS 7) - nhóm chuẩn mực chi phối hầu hết các khoản mục trên báo cáo tài chính của các tổ chức tài chính.

Nhóm chuẩn mực này thay đổi toàn diện cách phân loại, ghi nhận và đo lường công cụ tài chính, đòi hỏi các thay đổi và dữ liệu lớn để xây dựng các mô hình định lượng về giá trị hợp lý và tổn thất tín dụng dự kiến (ECL).

Ngân hàng phải sớm chuyển đổi IFRS vì thời gian chuẩn bị dài hơn doanh nghiệp
Ngân hàng phải sớm chuyển đổi IFRS vì thời gian chuẩn bị dài hơn doanh nghiệp. Ảnh: T.L
Việt Nam đã có nhiều bước tiến trong chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS Kỳ vọng công cuộc chuyển đổi số ngân hàng, lộ trình giảm lãi suất vẫn gian nan

Các dữ liệu sử dụng trong việc xây dựng mô hình thường có độ dài tối thiểu từ 5 đến 7 năm dẫn tới khối lượng dữ liệu yêu cầu là tương đối lớn. Việc thu thập, làm sạch dữ liệu để đáp ứng cho mô hình cũng tốn nhiều thời gian và công sức trong quá trình xây dựng mô hình, do các dữ liệu trước đây đang được thiết kế cho việc quản trị hoặc báo cáo theo VAS, thay vì IFRS.

PV: Ngoài các quy định chung từ phía Bộ Tài chính trong việc hướng dẫn chuyển đổi IFRS cho các doanh nghiệp nói chung, phía Ngân hàng Nhà nước có cần thêm những hướng dẫn cụ thể hơn để phù hợp cho việc chuyển đổi IFRS của các ngân hàng không?

Bà Nguyễn Thị Đăng Phương: Do IFRS chỉ quy định về mặt nguyên tắc hạch toán kế toán, việc có những hướng dẫn cụ thể hơn áp dụng cho từng đối tượng ngành, đặc biệt là ngành Ngân hàng là cần thiết, tạo điều kiện triển khai IFRS đồng bộ và thống nhất.

Mức độ đón nhận của cộng đồng doanh nghiệp đối với việc chuyển đổi IFRS

Nhìn chung, các doanh nghiệp ở Việt Nam đang đón nhận việc chuyển đổi IFRS một cách tương đối cởi mở, đặc biệt là các tập đoàn và các doanh nghiệp trong mảng dịch vụ tài chính, tiêu biểu là các ngân hàng.

Các doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng tự nguyện theo quy định hiện tại đang có các bước chuẩn bị tích cực cho kế hoạch chuyển đổi. Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phải báo cáo cho các nhà đầu tư nước ngoài theo chuẩn mực IFRS bày tỏ mong muốn được triển khai IFRS thay cho VAS trong thời gian tới. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có nhiều động thái trong việc áp dụng IFRS.

(Bà Nguyễn Thị Đăng Phương)

Chí Tín

Đọc thêm

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80