Ngân hàng VIB lên kế hoạch tăng vốn, lợi nhuận thoát tăng trưởng âm năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, VIB dự kiến chia cổ tức tiền mặt tối đa 7% vốn điều lệ, tương đương hơn 2.085 tỷ đồng; tăng vốn điều lệ tối đa 14,26% lên 34.040 tỷ đồng. Cũng trong năm nay, ngân hàng này đặt mục tiêu tăng trưởng các chỉ tiêu ở mức cao, trong đó, lợi nhuận trước thuế phấn đấu tăng 22%, thay vì đi lùi 16% như năm ngoái.
aa
Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào? "Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB, mã chứng khoán: VIB) vừa công bố thông tin về việc tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 vào ngày 27/3 tới đây tại TP.HCM.

Chia cổ tức 7% tiền mặt, tăng vốn điều lệ thêm hơn 14%

Theo tài liệu được công bố, VIB lên phương án trích lập các quỹ và phân phối lợi nhuận năm 2024. Trong đó, VIB dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt tối đa 7% vốn điều lệ, tương đương hơn 2.085,4 tỷ đồng.

Trong phiên họp Đại hội đồng cổ đông thường niên sắp tổ chức, Hội đồng quản trị VIB đề xuất phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu cho cổ đông hiện hữu và cho cán bộ nhân viên. VIB dự kiến phát hành 417,07 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông, tỷ lệ tăng thêm tối đa 14% và 7,8 triệu cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên, với tỷ lệ tăng thêm tối đa 0,26%.

Trong đó, số lượng cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu không bị hạn chế chuyển nhượng. Còn cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên bị hạn chế chuyển nhượng 1 năm.

Ngân hàng VIB lên kế hoạch tăng vốn, lợi nhuận thoát tăng trưởng âm năm 2025
Ngân hàng VIB lên kế hoạch tăng vốn, lợi nhuận thoát tăng trưởng âm năm 2025. Ảnh tư liệu.

Tăng vốn điều lệ lên trên 34 nghìn tỷ đồng

Nếu hoàn tất hai đợt phát hành nói trên thì VIB sẽ tăng vốn điều lệ thêm 3.404 tỷ đồng, lên mức 34.040 tỷ đồng. Toàn bộ vốn điều lệ tăng thêm sẽ được VIB sử dụng để phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được phân bổ vào các lĩnh vực hoạt động với cơ cấu hợp lý nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả và mang lại lợi ích cao nhất cho các cổ đông.

Đại diện VIB cho biết, tùy tình hình thị trường và nhu cầu sử dụng vốn thực tế, nguồn vốn điều lệ tăng thêm được dự kiến sử dụng nhằm đẩy mạnh cấp tín dụng và đầu tư vào các tài sản thanh khoản; đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, phát triển sản phẩm dịch vụ, nhân sự; đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới chi nhánh, thị phần và quy mô hoạt động của ngân hàng.

Trong tài liệu họp, VIB cũng công bố danh sách 21 cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ, gồm 14 cá nhân và 7 tổ chức. Trong đó, cá nhân sở hữu nhiều cổ phiếu nhất là Chủ tịch VIB Đặng Khắc Vỹ và ông Đỗ Xuân Hoàng, với gần 146,9 triệu cổ phần, tương đương 4,931%; bà Trần Thị Thảo Hiền nắm giữ 146 triệu cổ phần, tương ứng 4,91%...

Về nhóm cổ đông tổ chức, hai tổ chức có liên hệ đến Chủ tịch VIB sở hữu trên 1% vốn điều lệ của ngân hàng là Công ty cổ phần Beston sở hữu hơn 4,681% và người liên quan nắm 3,138%; Công ty cổ phần Funderra nắm 4,662% và người liên quan nắm 10,267%. Năm vừa qua, cổ đông lớn nhất và cũng là cổ đông chiến lược của VIB là Commonwealth Bank of Australia (CBA) rút vốn khỏi VIB sau 15 năm, chỉ còn sở hữu hơn 130 triệu cổ phần, tương đương 4,395%.

Bên cạnh đó, Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) mới lọt danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn trở lên khi nắm giữ hơn 29,86 triệu cổ phiếu VIB, chiếm 1,002% vốn điều lệ; người có liên quan đến ACBS sở hữu thêm 995.454 cổ phần, tương ứng 0,033%.

Nhiều chỉ tiêu đặt mục tiêu tăng trưởng cao

Về tình hình kinh doanh, trên cơ sở định hướng chiến lược và nhận định về môi trường kinh doanh năm 2025, VIB đặt mục tiêu tăng trưởng các chỉ tiêu ở mức cao, trên 20%. Cụ thể, tổng tài sản ước đạt 600 nghìn tỷ đồng, tăng 22%; tổng dư nợ tín dụng đạt gần 400 nghìn tỷ đồng, tăng 22%; lợi nhuận trước thuế đạt 11 nghìn tỷ đồng, tăng 22%.

Tăng trưởng dư nợ và huy động phụ thuộc vào tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao, dư nợ bao gồm cho vay, trái phiếu doanh nghiệp, mua nợ, huy động bao gồm tiền gửi và giấy tờ có giá, dự kiến tăng trưởng 26%.

Trước đó, trong năm 2024, VIB đạt mức tăng trưởng cao hơn trung bình ngành ở nhiều chỉ số, trong đó có cho vay (VIB tăng 22%, trung bình ngành 15%) và huy động (VIB tăng 17%, trung bình ngành 9%), tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng này giảm 16% so với năm 2023, chỉ đạt 75% kế hoạch, giảm 16% cùng kỳ, tương ứng đạt 9.004 tỷ đồng.

Ngân hàng VIB lên kế hoạch tăng vốn, lợi nhuận thoát tăng trưởng âm năm 2025
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Dư nợ bán lẻ áp đảo, chiếm 80%

Năm 2024, VIB đánh dấu mốc 8 năm trong hành trình chuyển đổi chiến lược 10 năm (2017-2026) trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Năm 2024, tổng dư nợ tín dụng của VIB tăng trưởng 22% và sử dụng 100% hạn mức tăng trưởng tín dụng do NHNN giao. Trong đó, dư nợ cho vay bán lẻ cuối năm 2024 đạt hơn 258 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 14%, tương đương 80% tổng dư nợ VIB, cao hơn mức trung bình toàn ngành (45%), song giảm so với mức 85% vào năm 2023 và 90% vào năm 2022.

Năm 2024, VIB ghi nhận thu nhập lãi thuần hơn 16.750 tỷ đồng, giảm 9,4% so với năm trước. Lãi thuần từ dịch vụ giảm 20% còn 1.765 tỷ đồng; lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối giảm 8,8% còn 501 tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, một số mảng khác ghi nhận lãi thuần tăng từ mua bán chứng khoán đầu tư và hoạt động khác.

Tính chung tổng thu nhập hoạt động năm 2024 của VIB đạt 20.569 tỷ đồng, giảm 7% cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí hoạt động cả năm 2024 tăng thêm 9% lên 7.211 tỷ đồng. VIB cũng giảm 10% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng còn 4.353 tỷ đồng, dù vậy, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng này vẫn giảm 16% so với năm 2023,

Theo giới phân tích, tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt 22% so với tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2024 là 4,2%, điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng của VIB đã tăng mạnh trong nửa cuối năm do ngân hàng tập trung nhiều hơn vào mảng doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của mảng bán lẻ thấp.

Cơ cấu danh mục cho vay của VIB cho thấy tỷ trọng cho vay bán lẻ giảm xuống còn 80% vào năm 2024 so với mức 85% vào năm 2023 và 90% vào năm 2022. Cùng với đó, NIM (biên lãi ròng) năm 2024 của VIB ở mức thấp nhất trong 6 năm qua.

Về chất lượng nợ vay, quy mô nợ xấu nhóm 3-5 của VIB tính đến 31/12/2024 trên 11.370 tỷ đồng, tăng 36% so với đầu năm. Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ giảm lần lượt 7% và 28%; riêng nợ xấu có khả năng mất vốn tăng gấp 3 lần, lên gần 6.400 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80