Những hoài nghi về đồng euro kỹ thuật số

Theo TTXVN
Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đồng loạt phát hành đồng tiền số hóa, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đang thực hiện một kế hoạch tương tự, theo đó thể chế tài chính này muốn tung ra "đồng euro kỹ thuật số của ngân hàng trung ương" càng sớm càng tốt.
aa

ecb

Biểu tượng đồng euro ở Frankfurt, Đức.

Nhiều nhà kinh tế đánh giá dự án này là một “sự đổi mới”, một bước quan trọng và không thể thiếu trong một thế giới ngày càng số hóa, nhưng cũng tiềm ẩn không ít nguy cơ.

ECB tuyên bố rằng mọi người đều có thể tiếp cận đồng euro kỹ thuật số và đây là đồng tiền mạnh, an toàn, hiệu quả, trong khuôn khổ luật pháp hiện hành. Đồng euro kỹ thuật số dự kiến được phát hành cũng là đồng tiền pháp định, giống như tiền mặt euro và số dư trong tài khoản ngân hàng bằng đồng euro vốn đại diện cho đồng tiền giấy euro.

Theo các chuyên gia, cũng giống như trường hợp của đồng euro hiện tại, số lượng tiền euro kỹ thuật số có thể tăng lên bất cứ lúc nào, nó không dựa vào điều gì cả và đồng euro kỹ thuật số chắc chắn cũng có rủi ro bị mất giá.

Ngoài ra, đồng euro kỹ thuật số có thể là loại “dựa trên tài khoản” (account based), tức là người dân giữ số tiền này trong một tài khoản được ECB chấp nhận, hoặc loại "dựa trên mã thông báo" ("token-based"- mô hình tiền tệ dựa vào các bên tham gia để xác thực tính hợp lệ của giao dịch thanh toán hay chuyển tiền) - người dùng tiền nhận được một “mã thông báo” có thể được chuyển từ điện thoại thông minh này sang điện thoại thông minh khác thông qua một ứng dụng. Điều này khiến nhiều người quan ngại về việc lực lượng chức năng có quyền truy cập vào dữ liệu thanh toán của các cá nhân.

ECB cho biết đồng euro kỹ thuật số là hình thức thanh toàn "bổ sung" cho tiền mặt và số dư trong tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, điều đó không thuyết phục vì những người thanh toán bằng tiền mặt rõ ràng thấy cách thanh toán này thuận tiện và họ muốn đảm bảo rằng họ có thể ẩn danh. Bên cạnh đó, nếu như thanh toán điện tử được áp dụng, sẽ không còn "quyền riêng tư tài chính”, khi đó mọi giao dịch của người dân sẽ minh bạch theo mong muốn của nhà nước và những người được hưởng lợi từ điều này.

Trong bối cảnh này, cần lưu ý rằng mọi người không chỉ giữ tiền mặt cho mục đích thanh toán. Ví dụ, họ cũng cần đến tiền mặt để bảo vệ bản thân trước các sự cố của ngân hàng, hoặc họ cũng giữ tiền mặt để thanh khoản trong trường hợp bị mất điện, không phải phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng trực tuyến.

Ngay sau khi tiền mặt bị hạn chế hoặc bị rút hoàn toàn ra khỏi các giao dịch, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể thực hiện chính sách lãi suất âm không bị cấm để giảm nợ. Khách hàng không còn có thể thoát ra khỏi “bảng cân đối tài khoản ngân hàng” và cửa thoát hiểm cuối cùng này khi đó sẽ bị khóa.

Không chắc rằng một đồng euro kỹ thuật số sẽ chiếm ưu thế một cách tự nhiên so với tiền mặt. Các chuyên gia cho rằng ECB sẽ phải làm cho việc sử dụng tiền mặt trở nên không còn hấp dẫn: bằng cách tăng chi phí tiền mặt với việc tăng phí tại các máy rút tiền ATM hoặc thông qua việc đặt giới hạn đối với thanh toán bằng tiền mặt, hay thông qua việc khuyến khích xã hội kỳ thị việc dùng tiền mặt./.

Theo TTXVN

Theo TTXVN

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
NL 99.99 13,650 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲50K
Trang sức 99.9 13,980 ▲20K 14,580 ▲20K
Trang sức 99.99 13,990 ▲20K 14,590 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1289K 14,622 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1289K 14,623 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲2K 1,457 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲2K 1,458 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,402 ▲1262K 1,447 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,267 ▲198K 143,267 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,886 ▲150K 108,686 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,756 ▲79894K 98,556 ▲88714K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,626 ▲122K 88,426 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,719 ▲117K 84,519 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,696 ▲83K 60,496 ▲83K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cập nhật: 14/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18853
CAD 18179 18455 19072
CHF 31070 31448 32083
CNY 0 3830 3926
EUR 29369 29590 30670
GBP 34232 34623 35556
HKD 0 3180 3383
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14702 15288
SGD 19911 20193 20763
THB 698 761 814
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26157
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,760 25,760 26,140
USD(1-2-5) 24,730 - -
USD(10-20) 24,730 - -
EUR 29,401 29,425 30,822
JPY 163.6 163.9 173.82
GBP 34,394 34,487 35,691
AUD 18,190 18,256 18,946
CAD 18,351 18,410 19,089
CHF 31,301 31,398 32,332
SGD 20,015 20,077 20,866
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,241 3,251 3,388
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 745.41 754.62 808.02
NZD 14,684 14,820 15,260
SEK - 2,619 2,711
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,739 2,836
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.71 - 6,713.47
TWD 737.77 - 893.86
SAR - 6,790.46 7,153.41
KWD - 82,264 87,538
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,700 25,730 26,110
EUR 29,475 29,593 30,790
GBP 34,415 34,553 35,582
HKD 3,237 3,250 3,367
CHF 31,175 31,300 32,234
JPY 164.54 165.20 173.18
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,090 20,171 20,766
THB 763 766 803
CAD 18,351 18,425 19,017
NZD 14,783 15,323
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25770 25770 26140
AUD 18180 18280 19205
CAD 18350 18450 19465
CHF 31291 31321 32899
CNY 3809.4 3834.4 3969.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29540 29570 31293
GBP 34520 34570 36333
HKD 0 3305 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14808 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20055 20185 20916
THB 0 726.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,645 25,745 26,110
USD20 25,595 25,745 26,110
USD1 24,327 25,745 26,876
AUD 18,276 18,376 19,497
EUR 29,406 29,506 31,184
CAD 18,279 18,379 19,696
SGD 20,151 20,301 20,864
JPY 165.77 167.27 172.88
GBP 34,432 34,582 35,660
XAU 14,268,000 0 14,572,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 14:30
Ngân hàng