Những ngân hàng tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng tỷ lệ an toàn vốn CAR của các ngân hàng lên mức 10,5% đến năm 2033. Khi không đáp ứng được tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu và vốn đệm bảo toàn vốn, ngân hàng sẽ bị giới hạn chia cổ tức tiền mặt. Tính đến cuối năm vừa qua, có 8 ngân hàng niêm yết có tỷ lệ CAR thấp hơn mức này và cần sớm khởi động cuộc đua tăng vốn để cải thiện tình hình.
aa

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hiện đang lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Thông tư Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Nâng dần hệ số CAR lên 10,5%

Dự thảo thông tư được xây dựng gồm 8 chương với 88 điều. Dự thảo thông tư quy định tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu ở mức 10,5%, thay vì mức tối thiểu là 8% hiện được quy định tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư số 41). Trong đó đảm bảo vốn cấp 1 tối thiểu 6%, vốn lõi cấp 1 là 4,5%, tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 là 8%, vốn đệm bảo toàn vốn là 2,5%.

Lộ trình nâng dần tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đáp ứng theo từng giai đoạn và đạt mức tối thiểu 10,5% đến năm 2033.

Những ngân hàng tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%
Lộ trình tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu giai đoạn 2030-2033 theo dự thảo thông tư.

Basel III là chuẩn mực quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng đã và đang được áp dụng rộng rãi trên quốc tế. Đây là chuẩn mực mà hệ thống ngân hàng Việt Nam hướng đến, thông qua việc nâng cao chất lượng về vốn và năng lực thanh khoản theo yêu cầu chuẩn mực, từ đó tạo nền tảng cho một hệ thống ngân hàng phát triển bền vững, có sức chống chịu biến cố, khả năng phục hồi sau biến cố và góp phần ngăn ngừa những tổn thất hệ thống có thể xảy ra.

Trên thực tiễn, một số ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã nghiên cứu, tham khảo thông lệ quốc tế về chuẩn mực Basel III để hướng tới việc áp dụng vào quản trị rủi ro, quản trị điều hành tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Những ngân hàng tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%
Những ngân hàng bị tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%.

Do đó, NHNN cho rằng việc nghiên cứu, ban hành thông tư quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để vừa cập nhật các quy định mới tại chuẩn mực Basel III vừa phù hợp với đặc thù hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là cần thiết, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam triển khai thực hiện.

Dự thảo quy định giao quyền cho Thống đốc NHNN quyết định tỷ lệ an toàn vốn trong từng thời kỳ trong trường hợp cần thiết và chưa đưa ra yêu cầu cụ thể đối với tỷ lệ đệm vốn phản chu kỳ.

Dự thảo thông tư được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 41 và cập nhật những quy định mới tại chuẩn mực Basel III năm 2017, đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

"Tỷ lệ này nhằm ngăn ngừa sự suy giảm của nền kinh tế, linh hoạt trong từng thời kỳ do NHNN quyết định với mức dao động trong khoảng 0-2,5%, tăng lên trong thời điểm thị trường tăng trưởng nóng và giảm xuống khi thị trường hoạt động trong điều kiện ổn định" - dự thảo nêu rõ.

Giới hạn tỷ lệ chia cổ tức bằng tiền mặt

Theo dự thảo thông tư, trường hợp ngân hàng thương mại không đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn CAR tối thiểu và mức đệm bảo toàn vốn (CCB) quy định tại dự thảo trong năm tài chính, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được dùng lợi nhuận chưa phân phối để chi cổ tức bằng tiền mặt theo tỷ lệ tối đa 80%.

Khi ngân hàng đảm bảo tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu và vốn đệm bảo toàn vốn thì có thể nâng tỷ lệ chia cổ tức bằng tiền mặt lên 100%, tức 1 cổ phiếu được nhận 10.000 đồng.

Những ngân hàng tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%
Trường hợp ngân hàng thương mại không đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và mức đệm bảo toàn vốn chỉ được dùng lợi nhuận chưa phân phối để chi cổ tức bằng tiền mặt theo tỷ lệ tối đa từ năm 2033 như trên.

Thời gian qua, các ngân hàng thông thường trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm giúp ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn và có dư địa mở rộng danh mục tín dụng. Tính riêng năm 2024, sau khi không còn bị siết quy định, các ngân hàng đua nhau trả cổ tức bằng tiền mặt sau nhiều năm chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc giữ lại lợi nhuận song tỷ lệ cũng chỉ dao động 3-15%.

Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt năm nay lớn nhất là 15% tại Techcombank sau 10 năm thực hiện chính sách không chi trả cổ tức, theo đó, mỗi cổ phiếu TCB được nhận 1.500 đồng.

Ba năm vừa qua, ngành ngân hàng đang cải thiện dần hệ số tỷ lệ an toàn vốn CAR của nhóm ngân hàng áp dụng theo Thông tư số 41 và đạt ở mức cao hơn trên 3 điểm phần trăm so với mức tiêu chuẩn (8%). Trong khi một số ngân hàng ghi nhận CAR ở mức rất cao so với yêu cầu tối thiểu 8% tại Thông tư số 41 và cao hơn nhiều so với hệ thống như: Saigonbank, VPBank, Techcombank, SeABank..., hiện một số ngân hàng có tỷ lệ CAR ở mức thấp hơn đáng kể.

Các ngân hàng có tỷ lệ CAR thấp hơn 10,5%

Tính đến cuối năm 2023, thống kê của TBTCVN cho thấy, trong các ngân hàng niêm yết có 8 ngân hàng có tỷ lệ CAR dưới 10,5%; trong đó, có hai "ông lớn" quốc doanh là Vietinbank có hệ số CAR là 9,31%; BIDV 9,18%. Bên cạnh đó, còn có một số nhà băng khác như: VietBank với hệ số CAR là 10,39%; KienlongBank 9,73%; VietABank 9,25%; NVB 9,22%; Sacombank 9,11%; Bac A Bank 8,56%.

Như vậy, nếu thông tư được ban hành, thì các ngân hàng kể trên phải đẩy mạnh lộ trình tăng vốn để nâng dần tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên mức 10,5% đến năm 2033, hoặc giảm hoạt động cho vay để thích ứng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống còn 4.156 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm cao nhất lên tới 5,1 triệu đồng/lượng.
Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,420 ▲170K 14,720 ▲70K
Kim TT/AVPL 14,420 ▲170K 14,720 ▲70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,420 ▲170K 14,720 ▲70K
Nguyên Liệu 99.99 13,050 13,250
Nguyên Liệu 99.9 13,000 13,200
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
Hà Nội - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
Miền Tây - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,200 ▲600K 147,200 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 ▲50K 14,720 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,420 ▲50K 14,720 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,420 ▲50K 14,720 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▲50K 14,700 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▲50K 14,700 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▲50K 14,700 ▲50K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▲50K 14,590 ▲50K
Trang sức 99.99 13,900 ▲50K 14,600 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 ▲5K 14,722 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 ▲5K 14,723 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲5K 1,471 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲5K 1,472 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,421 ▲5K 1,456 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 ▲495K 144,158 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲375K 109,361 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,668 ▲340K 99,168 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,475 ▲71558K 88,975 ▲80108K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,543 ▲291K 85,043 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,371 ▲208K 60,871 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▲5K 1,472 ▲5K
Cập nhật: 20/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18774
CAD 18058 18333 18954
CHF 31959 32340 32980
CNY 0 3846 3940
EUR 29546 29767 30851
GBP 34019 34409 35350
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14795 15380
SGD 19816 20098 20708
THB 715 778 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80