Nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ

Hoàng Yến
Con số nợ xấu đầy đủ cao hơn rất nhiều con số chính thức, vì vậy nguy cơ tiềm ẩn, bùng nổ nợ xấu quy mô lớn là rất cao. Đây là đánh giá của ông Phạm Mạnh Thường, Phó Tổng giám đốc DATC tại hội thảo khoa học về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngày 17/12.
aa

bung no no xau

Hầu hết, các giải pháp xử lý nợ của Việt Nam mang tính truyền thống, chưa áp dụng được các phương pháp hiện đại từ nước ngoài. Ảnh minh họa của Anh Tuấn.

Nhiễu thông tin về nợ xấu

Theo ông Phạm Mạnh Thường, từ năm 2011, nợ xấu ở Việt Nam tăng nhanh liên tục, cùng với đó là vấn đề thanh khoản rất khó khăn. Chính vì thế, Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời có cả mục tiêu là cứu thanh khoản. Từ đó đến nay, nợ xấu đã được cải thiện một phần, ngân hàng cải thiện thanh khoản.

Khác với trước đây, trong giai đoạn hiện nay, thanh khoản không còn là vấn đề nóng của thị trường. Theo ông Phạm Mạnh Thường, mặc dù VAMC đã mua hơn 28.000 tỷ đồng nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt nhưng chưa có TCTD nào đến xin tái chiết khấu để cấp vốn bằng trái phiếu đó. Điều này chứng tỏ tính thanh khoản không những được cải thiện mà nền kinh tế còn rơi vào tình trạng không hấp thụ được vốn, dẫn đến ứ đọng, dư thừa vốn.

Thực tế, một vấn đề lớn trong bức tranh nợ xấu của Việt Nam là sự nhiễu thông tin. Theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đến tháng 8/2013, dư nợ xấu của các định chế tài chính là 4,6% tổng dư nợ, vào khoảng hơn 140.000 tỷ đồng, giảm đáng kể so với thời kỳ cuối 2011, đầu 2012 (hơn 250.000 tỷ).

Số 4,6% dư nợ này không bao gồm khoảng 295.000 tỷ đồng các khoản nợ mà NHNN đã yêu cầu giữ nguyên nhóm nợ, không điều chỉnh nhóm. Nếu thực hiện theo đúng quy định về phân loại nợ trong hệ thống tín dụng thì đa phần số nợ này thuộc nhóm nợ xấu. Con số nợ 4,6% cũng không gồm số nợ đã chuyển ra khỏi bảng tại các TCTD bằng các biện pháp khác nhau, ước tính vào khoảng 100.000 tỷ đồng.

Ngoài ra, con số nợ xấu chính thức cũng không bao gồm dư nợ xấu của các ngân hàng mang tính chính sách là Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng Chính sách xã hội. Theo kết quả kiểm toán công bố năm 2012 của VDB, dư nợ xấu của ngân hàng này khoảng 12%, tương đương mức nợ xấu khoảng hơn 12.000 tỷ đồng.

Gần đây nhất, một báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá con số nợ xấu của Việt Nam gấp 3 – 4 lần số công bố. Theo ông Thường, con số này tương đối phù hợp với các đánh giá của nhiều tổ chức trong và ngoài nước.

Như vậy, ông Thường lưu ý con số nợ xấu đầy đủ cao hơn rất nhiều con số chính thức, vì vậy nguy cơ tiềm ẩn, bùng nổ nợ xấu quy mô lớn là rất cao.

Gần đây nhất, một báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá con số nợ xấu của Việt Nam gấp 3 – 4 lần số công bố.

Thiếu những phương thức xử lý nợ xấu hiện đại

Chính vì vậy, bài toán xử lý nợ xấu phù hợp là vấn đề mấu chốt. Theo dòng lịch sử, nợ xấu của Việt Nam được xử lý theo từng giai đoạn. Trước đây, việc xử lý theo mô hình phân tán, để từng TCTD tự xử lý thông qua các công ty quản lý tài sản (AMC). Tuy nhiên hoạt động xử lý của các AMC đã không tốt như mong đợi mà chủ yếu là tự xử lý nợ của chính ngân hàng, làm đẹp sổ sách. Vì vậy, sau đó nhiều ngân hàng đã chuyển đổi, giải thể AMC của mình.

Một đặc điểm nữa của nợ xấu Việt Nam là đã tích tụ, tồn kho trong thời gian rất dài, có những khoản nợ lên đến 10 – 15 năm, đặc biệt là cho vay chính sách. Chính vì vậy, khả năng thu hồi, xử lý rất khó khăn.

Sự ra đời của VAMC mặc dù cũng được kỳ vọng nhiều nhưng kết quả chưa thực sự thuyết phục. Hầu hết, các giải pháp xử lý nợ của Việt Nam mang tính truyền thống, chưa áp dụng được các phương pháp hiện đại từ nước ngoài. Cụ thể như hình thức chứng khoán nợ rất phổ biến ở nước ngoài nhưng chưa thể triển khai ở Việt Nam do thiếu cơ chế pháp lý cũng như tổ chức đứng ra. Hay việc bán nợ thông qua các định chế đặc biệt như mô hình áp dụng ở Hàn Quốc, Nhật, Mỹ… Theo ông Thường, đây sẽ là xu hướng xử lý nợ trong tương lai ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài từ 2006 đã rất quan tâm đến thị trường nợ xấu Việt Nam, tuy nhiên vì nhiều lý do mà họ chưa tham gia mua bán nợ xấu. Nếu xử lý được những vướng mắc về bán nợ cho nước ngoài thì đây sẽ là hình thức làm tăng nhanh tính thanh khoản của nợ xấu ở Việt Nam.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Trước “giờ G” của những thay đổi về chính sách, nhiều hộ kinh doanh không khỏi lo lắng: làm sao kịp thời tuân thủ quy định, trong khi vẫn duy trì và mở rộng kinh doanh. Thấu hiểu những trăn trở này từ quá trình đồng hành lâu dài cùng hộ kinh doanh, ACB đã triển khai gói ưu đãi đặc biệt trị giá 30 triệu đồng - không chỉ giúp hộ kinh doanh vận hành đúng, đủ theo quy định, mà còn mở ra thêm cơ hội tăng trưởng và mở rộng thị trường trong giai đoạn mới.
Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

(TBTCO) - Khi nhu cầu vốn gia tăng, bài toán không còn nằm ở quy mô huy động mà chuyển sang hiệu quả sử dụng và phân bổ, đòi hỏi tái cấu trúc các kênh dẫn vốn cho tăng trưởng bền vững.
Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 18/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.102 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi tỷ giá USD tự do đứng yên quanh 26.600 - 26.630 VND/USD sau khi giảm mạnh 200 đồng tuần qua. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY chốt tuần ở 98,21 điểm, tăng nhẹ phiên cuối, nhưng giảm 0,45% cả tuần, phản ánh USD dao động trong biên độ hẹp khi dòng tiền toàn cầu liên tục đảo chiều trước biến động địa chính trị và kỳ vọng chính sách.
Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng Sáng ngày 18/4, giá vàng trong nước đảo chiều tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 800.000 - 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 172 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm và chính thức khai trương hoạt động MBV Bà Rịa.
Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

(TBTCO) - PVI Holdings lên kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, với doanh thu hợp nhất khoảng 28.815 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.243 tỷ đồng; đồng thời, dự kiến chi trả cổ tức 33%, gồm 23% tiền mặt và 10% cổ phiếu giúp tăng vốn điều lệ. Lãnh đạo PVI cũng bật mí lộ trình thoái vốn của PVN sẽ được xây dựng trong giai đoạn 2026 - 2030 sau khi "lỡ hẹn" kế hoạch trước đó.
Nghị định số 78/2026/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Nghị định số 78/2026/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Ngày 17/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi vi phạm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 17,200
Kim TT/AVPL 16,850 17,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 17,150
Nguyên Liệu 99.99 15,750 15,950
Nguyên Liệu 99.9 15,700 15,900
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 171,500
Hà Nội - PNJ 168,500 171,500
Đà Nẵng - PNJ 168,500 171,500
Miền Tây - PNJ 168,500 171,500
Tây Nguyên - PNJ 168,500 171,500
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 171,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼100K 17,100 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼100K 17,100 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼100K 17,100 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,750 ▼100K 17,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,750 ▼100K 17,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,750 ▼100K 17,050 ▼100K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,240 ▼100K 16,940 ▼100K
Trang sức 99.99 16,250 ▼100K 16,950 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,673 ▼12K 17,082 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,673 ▼12K 17,083 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 1,715
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 1,716
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 170
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,817 168,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,763 127,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,862 115,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,496 10,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,037 9,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,147 71,047
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,673 ▼12K 1,708 ▲1536K
Cập nhật: 20/04/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18334 18610 19194
CAD 18695 18973 19590
CHF 33021 33407 34059
CNY 0 3800 3870
EUR 30337 30611 31647
GBP 34781 35174 36117
HKD 0 3231 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15182 15767
SGD 20182 20465 21002
THB 738 802 857
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,564 30,588 31,862
JPY 161.12 161.41 170.15
GBP 35,028 35,123 36,125
AUD 18,570 18,637 19,227
CAD 18,936 18,997 19,585
CHF 33,278 33,381 34,177
SGD 20,308 20,371 21,053
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 783.75 793.43 844.59
NZD 15,194 15,335 15,700
SEK - 2,822 2,905
DKK - 4,090 4,209
NOK - 2,773 2,854
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,234.26 - 6,997.43
TWD 754.41 - 908.65
SAR - 6,919.82 7,246.93
KWD - 83,924 88,778
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26358
AUD 18475 18575 19500
CAD 18869 18969 19983
CHF 33230 33260 34847
CNY 3801.9 3826.9 3962.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30495 30525 32251
GBP 35027 35077 36838
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15270 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20305 20435 21166
THB 0 766.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16700000 16700000 17200000
SBJ 15000000 15000000 17200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,357
USD20 26,159 26,209 26,357
USD1 23,847 26,209 26,357
AUD 18,588 18,688 19,797
EUR 30,758 30,758 32,169
CAD 18,852 18,952 20,257
SGD 20,396 20,546 21,111
JPY 162.55 164.05 168.59
GBP 35,036 35,386 36,251
XAU 16,748,000 0 17,002,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/04/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80