Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

Thu Hương
(TBTCO) - Khi nhu cầu vốn gia tăng, bài toán không còn nằm ở quy mô huy động mà chuyển sang hiệu quả sử dụng và phân bổ, đòi hỏi tái cấu trúc các kênh dẫn vốn cho tăng trưởng bền vững.
aa

Chuyển trọng tâm từ lượng sang chất

Theo phân tích của giới chuyên gia, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhu cầu vốn ở mức cao trong trung và dài hạn. Trong bối cảnh đó, khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp, ngày càng được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở việc mở rộng quy mô vốn mà còn chuyển sang nâng cao hiệu quả sử dụng, cải thiện năng suất và chất lượng tăng trưởng nhằm bảo đảm tính bền vững.

Cùng với sự chuyển dịch của mô hình tăng trưởng, vai trò của các tập đoàn kinh tế cũng được nhìn nhận theo hướng mở rộng. Thay vì chỉ là chủ thể sử dụng vốn, các doanh nghiệp quy mô lớn được kỳ vọng tham gia sâu hơn vào quá trình dẫn dắt và phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực trọng điểm. Do đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào khả năng huy động vốn mà còn gắn với hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng
Hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực tài chính và hỗ trợ sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp. Ảnh: Đức Thanh

Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế duy trì tích cực trong nhiều năm qua nhưng chưa hoàn toàn đồng hành với sự phát triển tương xứng của các doanh nghiệp lớn trong nước, đặt ra yêu cầu nâng cao vai trò dẫn dắt của khu vực doanh nghiệp nội địa.

Ở góc nhìn thị trường, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings chỉ ra rằng, trong bối cảnh năng lực cấp tín dụng trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại có dấu hiệu suy giảm, vai trò của thị trường vốn, đặc biệt là vốn nợ, ngày càng trở nên quan trọng. Dự báo cho thấy tổng quy mô các nguồn vốn trung và dài hạn có thể tăng từ khoảng 119,7 tỷ USD năm 2025 lên 139,8 tỷ USD năm 2026, tương ứng mức tăng khoảng 16,8%, song cấu trúc các kênh huy động có sự phân hóa rõ nét.

Mở rộng nguồn lực tài chính cho hạ tầng

Ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch HĐQT Saigon Ratings cho rằng, phát hành trái phiếu cho các dự án hạ tầng như metro là hướng đi phù hợp trong bối cảnh cần mở rộng nguồn vốn dài hạn. Trái phiếu hạ tầng giúp huy động nguồn lực xã hội, giảm phụ thuộc vào ngân sách và tín dụng ngân hàng. Theo đó, trái phiếu chính phủ đóng vai trò nền tảng, trái phiếu địa phương phù hợp với đô thị lớn, còn trái phiếu công trình có thể gắn với dòng tiền dự án. Đây được xem là công cụ quan trọng góp phần hoàn thiện cấu trúc thị trường vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Trong đó, vốn đầu tư công tiếp tục đóng vai trò “vốn mồi” khi giá trị giải ngân dự kiến tăng mạnh, qua đó kích hoạt dòng vốn tư nhân. Ngược lại, tín dụng ngân hàng trung và dài hạn có xu hướng chững lại do dư địa tăng trưởng bị thu hẹp khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tiệm cận trần quy định, trong khi bộ đệm vốn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế. Các nguồn vốn quốc tế như FDI duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần chuyển giao công nghệ và thúc đẩy hội nhập, trong khi hoạt động M&A dù tăng nhanh nhưng quy mô chưa đủ lớn để tạo lực kéo mạnh cho tăng trưởng.

Ở chiều tích cực, thị trường cổ phiếu được kỳ vọng cải thiện với quy mô phát hành tăng nhờ triển vọng nâng hạng và sự xuất hiện của các đợt IPO mới. Đồng thời, kênh vay nước ngoài của doanh nghiệp có thể phục hồi trong bối cảnh chu kỳ lãi suất toàn cầu đảo chiều, góp phần hỗ trợ tái cấp vốn. Đáng chú ý, thị trường trái phiếu doanh nghiệp được dự báo tăng trưởng mạnh nhờ khung pháp lý dần hoàn thiện và hạ tầng thị trường cải thiện.

Nút thắt cấu trúc vốn doanh nghiệp

Dù vậy, theo ông Nguyễn Quang Thuân, cấu trúc huy động vốn của doanh nghiệp vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Tín dụng ngân hàng tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, trong khi phần lớn là các khoản vay ngắn hạn, tạo áp lực lên cân đối dòng tiền. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã phục hồi nhưng quy mô còn hạn chế, đặc biệt là sự tham gia chưa sâu của các tập đoàn lớn, nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, chất lượng minh bạch thông tin và hệ thống xếp hạng tín nhiệm hạn chế, khiến chi phí vốn chưa tối ưu và khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn còn gặp khó khăn.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhà nước được đánh giá có dư địa lớn để đóng vai trò dẫn dắt chu kỳ đầu tư mới. Với mức đòn bẩy tài chính tương đối thấp và quy mô tài sản lớn, khu vực này có khả năng đảm nhiệm vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro trong giai đoạn đầu của các dự án quy mô lớn, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước vì vậy trở thành yếu tố then chốt, và các cải cách về quản trị đang được kỳ vọng tạo chuyển biến rõ nét.

Ngân hàng trong cấu trúc vốn đa kênh

Bên cạnh sự phát triển của thị trường vốn, hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực tài chính và hỗ trợ sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế. Ông Đỗ Quang Vinh - Phó Chủ tịch HĐQT, kiêm Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng SHB cho rằng, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn cần các doanh nghiệp lớn đóng vai trò dẫn dắt, các ngân hàng tiếp tục khẳng định chiến lược hợp tác, cung ứng sản phẩm và dịch vụ tài chính cho các đối tác lớn và doanh nghiệp đầu ngành, qua đó tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc vốn đa kênh của nền kinh tế.

Việc hoàn thiện khung pháp lý, trong đó có Luật PPP sửa đổi, mở ra dư địa mới cho huy động vốn hạ tầng thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro và tăng tỷ lệ vốn nhà nước tham gia. Trái phiếu hạ tầng được xem là công cụ kết nối hiệu quả giữa vai trò của nhà nước và khu vực tư nhân, góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn và mở rộng kênh huy động vốn dài hạn.

Để nâng cao khả năng huy động vốn, một trong những vấn đề cốt lõi là cải thiện tính khả thi tài chính của các dự án. Điều này đòi hỏi sự ổn định và nhất quán của chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro thể chế, đồng thời nâng cao chất lượng khâu chuẩn bị dự án và thiết kế cấu trúc tài chính phù hợp. Trong đó, mô hình tài trợ dự án cần được đẩy mạnh đối với các lĩnh vực trọng điểm nhằm đa dạng hóa nguồn vốn và giảm áp lực lên bảng cân đối của doanh nghiệp.

Song song với đó, cải cách thị trường vốn cần tiếp tục được thúc đẩy theo hướng phát triển chiều sâu, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và đa dạng hóa sản phẩm. Việc nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia sẽ góp phần giảm chi phí huy động vốn cho cả Chính phủ và doanh nghiệp, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Các công cụ tài chính mới như chứng khoán hóa dòng tiền từ dự án hạ tầng cũng cần được nghiên cứu và triển khai phù hợp với điều kiện thị trường.

Cùng với đó, vai trò dẫn dắt của Nhà nước có thể được củng cố thông qua việc hình thành các quỹ đầu tư quy mô quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực hạ tầng và tăng trưởng. Đây sẽ là nền tảng để huy động nguồn vốn dài hạn, đồng thời thu hút sự tham gia của các định chế tài chính quốc tế theo cơ chế đồng đầu tư. Xu hướng chuyển dịch từ sử dụng ngân sách nhà nước sang huy động vốn theo cơ chế thị trường cho các dự án hạ tầng vì vậy ngày càng rõ nét.

“Trong dài hạn, Việt Nam cần hoàn thiện hạ tầng thị trường, đặc biệt là thị trường trái phiếu, công cụ phòng ngừa rủi ro và hệ thống định giá, đồng thời cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia để nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn quốc tế” - ông Thuân nhận định.

Thu Hương

Đọc thêm

Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

Thông báo khai trương và thay đổi địa điểm hoạt động MBV Bà Rịa

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm và chính thức khai trương hoạt động MBV Bà Rịa.
Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

Đại hội đồng cổ đông PVI: Phấn đấu đạt doanh thu gần 29.000 tỷ đồng, vẫn chờ lộ trình thoái vốn từ PVN

(TBTCO) - PVI Holdings lên kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, với doanh thu hợp nhất khoảng 28.815 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 1.243 tỷ đồng; đồng thời, dự kiến chi trả cổ tức 33%, gồm 23% tiền mặt và 10% cổ phiếu giúp tăng vốn điều lệ. Lãnh đạo PVI cũng bật mí lộ trình thoái vốn của PVN sẽ được xây dựng trong giai đoạn 2026 - 2030 sau khi "lỡ hẹn" kế hoạch trước đó.
Nghị định số 78/2026/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Nghị định số 78/2026/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Ngày 17/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi vi phạm.
MBAMC thông báo chào bán tài sản xử lý nợ

MBAMC thông báo chào bán tài sản xử lý nợ

(TBTCO) - Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Quân đội (MBAMC) thông báo chào bán công khai tài sản bảo đảm của Công ty cổ phần Giáo dục Quốc tế Thần Đồng thế chấp tại MBV để thu hồi khoản nợ.
SHB đồng hành cùng hộ kinh doanh số hóa với chương trình ưu đãi lên tới 3 tỷ đồng

SHB đồng hành cùng hộ kinh doanh số hóa với chương trình ưu đãi lên tới 3 tỷ đồng

(TBTCO) - Chương trình tặng gói giải pháp phần mềm bán hàng, chữ ký số và hóa đơn điện tử góp phần giúp hộ kinh doanh nâng cao năng lực quản trị, minh bạch vận hành và thích ứng với xu thế kinh doanh số, đồng thời bám sát tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 68-NQ/TW.
Định hình “luật chơi” mới cho Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Định hình “luật chơi” mới cho Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung

(TBTCO) - Sau hơn 10 năm triển khai, bảo hiểm hưu trí bổ sung đang từng bước hoàn thiện, với quy mô quỹ tăng mạnh, gấp 26 lần năm 2021 cùng khung pháp lý mới theo Nghị định 85/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/5/2026. Trao đổi với phóng viên, bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh ba điểm nổi bật của Nghị định mới, hướng đến đảm bảo an sinh xã hội, kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu quả sinh lời và tạo nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Sau năm "hụt nhẹ" kế hoạch, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu doanh thu phí năm 2026 vượt mốc 6.000 tỷ đồng

Sau năm "hụt nhẹ" kế hoạch, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu doanh thu phí năm 2026 vượt mốc 6.000 tỷ đồng

Năm 2026, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm đạt 6.230 tỷ đồng, tăng 17% và lợi nhuận trước thuế hợp nhất 780 tỷ đồng, tăng gần 16%. Để hoàn thành kế hoạch kinh doanh, BIC dự kiến mở rộng lĩnh vực hoạt động, kinh doanh.
Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời triển khai Đề án 06 của Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số, mang lại lợi ích lớn, thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▲100K 17,200 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,850 ▲100K 17,200 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▲100K 17,150 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,750 ▲100K 15,950 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,700 ▲100K 15,900 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▲100K 16,950 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▲100K 16,900 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▲100K 16,880 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▲1000K 171,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,900 ▲150K 17,200 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,900 ▲150K 17,200 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,900 ▲150K 17,200 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,850 ▲150K 17,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,850 ▲150K 17,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,850 ▲150K 17,150 ▲100K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,340 ▲100K 17,040 ▲100K
Trang sức 99.99 16,350 ▲100K 17,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▲10K 17,202 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▲10K 17,203 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 ▲1K 1,715 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 ▲1K 1,716 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 ▲1K 170 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,817 ▲990K 168,317 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,763 ▲750K 127,663 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,862 ▲681K 115,762 ▲681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,496 ▲61K 10,386 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,037 ▼80750K 9,927 ▼88760K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,147 ▲55974K 71,047 ▲63984K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲10K 172 ▲1K
Cập nhật: 18/04/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18334 18610 19194
CAD 18695 18973 19590
CHF 33021 33407 34059
CNY 0 3800 3870
EUR 30337 30611 31647
GBP 34781 35174 36117
HKD 0 3231 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15182 15767
SGD 20182 20465 21002
THB 738 802 857
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,564 30,588 31,862
JPY 161.12 161.41 170.15
GBP 35,028 35,123 36,125
AUD 18,570 18,637 19,227
CAD 18,936 18,997 19,585
CHF 33,278 33,381 34,177
SGD 20,308 20,371 21,053
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 783.75 793.43 844.59
NZD 15,194 15,335 15,700
SEK - 2,822 2,905
DKK - 4,090 4,209
NOK - 2,773 2,854
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,234.26 - 6,997.43
TWD 754.41 - 908.65
SAR - 6,919.82 7,246.93
KWD - 83,924 88,778
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18535 18635 19558
CAD 18899 18999 20013
CHF 33251 33281 34864
CNY 3799 3824 3959.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30601 30631 32356
GBP 35130 35180 36938
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15299 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20316 20446 21178
THB 0 765.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,357
USD20 26,159 26,209 26,357
USD1 23,847 26,209 26,357
AUD 18,588 18,688 19,797
EUR 30,758 30,758 32,169
CAD 18,852 18,952 20,257
SGD 20,396 20,546 21,111
JPY 162.55 164.05 168.59
GBP 35,036 35,386 36,251
XAU 16,748,000 0 17,002,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/04/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80