"Ông lớn" ngân hàng big 4 muốn chia cổ tức kỷ lục gần 45%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nếu kế hoạch này được thông qua thì đây sẽ là lần chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ cao nhất tại ngân hàng VietinBank, với bước tăng vốn điều lệ nhảy vọt trong lịch sử, từ 53.700 tỷ đồng lên 77.671 tỷ đồng.
aa
Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ Tăng vốn "nhảy vọt", một ngân hàng dẫn đầu vốn điều lệ toàn ngành Ngân hàng VIB lên kế hoạch tăng vốn, lợi nhuận thoát tăng trưởng âm năm 2025

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank - mã chứng khoán: CTG) vừa công bố thông tin tài liệu họp đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025. Đại hội dự kiến được tổ chức vào ngày 1/4 tại Trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực VietinBank, Hà Nội.

Dùng toàn bộ lợi nhuận hàng năm để tăng vốn

Đại hội đồng cổ đông thường niên sẽ thảo luận và xem xét các tờ trình về báo cáo kết quả hoạt động, kế hoạch kinh doanh 2025, bầu hội đồng quản trị, ban kiểm soát nhiệm kỳ mới, phương án phân phối lợi nhuận và một số nội dung trong thẩm quyền được đề xuất.

Đáng chú ý, tại đại hội thường niên, Hội đồng Quản trị VietinBank trình đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu tối đa, với tỷ lệ 44,64% từ nguồn lợi nhuận còn lại sau thuế, trích các quỹ và chia cổ tức tiền mặt giai đoạn năm 2009-2016, năm 2021 và năm 2022 đạt 23.971 tỷ đồng.

Số lượng cổ phiếu phát hành, tổng giá trị phát hành theo mệnh giá, tỷ lệ phát hành cụ thể thực hiện theo phê duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

VietinBank trình đại hội đồng cổ đông phương án chia cổ tức 44,64%
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Tăng vốn điều lệ kỷ lục thêm gần 24.000 tỷ đồng

Ngân hàng trình các cổ đông phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cố phiếu để trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận còn lại năm 2021, 2022 và giai đoạn 2009-2016, nhằm tăng vốn điều lệ từ 53.699,92 tỷ đồng lên 77.670,97 tỷ đồng, tương ứng tăng gần 24.000 tỷ đồng. Theo đó, VietinBank dự kiến phát hành tối đa gần 2,4 tỷ cổ phiếu, tỷ lệ phát hành là 44,64% cho cổ đông hiện hữu.

Vốn điều lệ tăng thêm dự kiến sẽ được dùng toàn bộ để phục vụ kinh doanh, được phân bổ vào các lĩnh vực hoạt động của VietinBank với cơ cấu hợp lý trên nguyên tắc đảm bảo an toàn, hiệu quả và mang lại lợi ích cao nhất cho các cổ đông.

Bên cạnh đó, ban lãnh đạo ngân hàng cũng trình đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phân phối lợi nhuận năm 2024. Theo đó, lợi nhuận sau thuế riêng lẻ của VietinBank là hơn 24.259 tỷ đồng. Sau khi trích lập các quỹ, VietinBank còn hơn 15.596 tỷ đồng, dự kiến dùng hết để chia cổ tức bằng cổ phiếu theo phê duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

VietinBank cũng đề xuất các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chủ trương cho phép ngân hàng được giữ lại toàn bộ lợi nhuận hàng năm của giai đoạn 2024 - 2028 để tăng vốn, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Trong cơ cấu cổ đông hiện tại của VietinBank, NHNN hiện là cổ đông lớn nhất nắm 54,46% vốn; cổ đông ngoại MUFG Bank Ltd. nắm giữ 19,73% vốn.

Phấn đấu tổng tài sản tăng trưởng đến 10%

Năm 2025 là năm then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu giai đoạn 2020-2025 của nền kinh tế, ngành ngân hàng nói chung và VietinBank nói riêng. VietinBank sẽ tiếp tục giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực, đi đầu trong việc thực thi các chủ trương, chính sách, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh tiền tệ và đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Trong năm 2025, Hội đồng Quản trị VietinBank đề xuất một số chỉ tiêu tăng trưởng như: tổng tài sản tăng trưởng từ 5 -10%, tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng ở mức dưới 1,8%.

Các chỉ tiêu về dư nợ tín dụng, lợi nhuận trước thuế, cổ tức và tỷ lệ an toàn hoạt động theo phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hoặc các cơ quan có thẩm quyền.

Nguồn vốn huy động dự kiến tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các chỉ số an toàn thanh khoản.

VietinBank trình đại hội đồng cổ đông phương án chia cổ tức 44,64%
"Ông lớn" ngân hàng big 4 muốn chia cổ tức kỷ lục gần 45%. Ảnh tư liệu.

Trước đó, nhờ triển khai quyết liệt giải pháp kinh doanh, năm 2024, VietinBank đạt kết quả khả quan trong nhiều hoạt động trọng yếu. Theo đó, tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, hiệu quả, với dư nợ tín dụng hợp nhất đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 16,8% so với năm 2023; tốc độ tăng trưởng được duy trì ngay từ đầu năm, đạt mức cao hơn toàn ngành (15,08%).

Lợi nhuận trước trích dự phòng rủi ro đạt 59,4 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 18,5% so với năm 2023, đạt cao nhất từ trước tới nay và cao nhất ngành ngân hàng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 31,8 nghìn tỷ đồng, tăng 27,1% so với năm 2023.

Trong báo cáo phân tích về VietinBank, Chứng khoán SSI dự báo năm 2025, ngân hàng sẽ đạt lợi nhuận trước thuế vượt 40.000 tỷ đồng trong năm 2025, tăng 26% cùng kỳ.

Theo SSI, động lực tăng trưởng lợi nhuận của VietinBank đến từ việc giảm trích lập dự phòng tín dụng, dự kiến giảm 12,7% xuống còn 24.000 tỷ đồng; thu nhập lãi thuần cải thiện, tăng 15%. Tín dụng của VietinBank sẽ tăng 17,5% trong năm 2025, đạt 2,03 triệu tỷ đồng, phân bổ nhiều hơn vào các đại dự án thuộc những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao, cũng như nhóm doanh nghiệp đang dịch chuyển chuỗi cung ứng và mở rộng sản xuất tại Việt Nam.

Ngoài những nội dung trên, đại hội đồng cổ đông của VietinBank dự kiến cũng sẽ xem xét các vấn đề như mức thù lao của hội đồng quản trị, ban kiểm soát; niêm yết phát hành trái phiếu ra công chúng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80