Tăng vốn "nhảy vọt", một ngân hàng dẫn đầu vốn điều lệ toàn ngành

(TBTCO) - Vietcombank dự kiến phát hành gần 2,77 tỷ cổ phiếu với tỷ lệ 49,5% cho cổ đông hiện hữu ngay trong năm 2025. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của Vietcombank sẽ tăng lên gần 83.557 tỷ đồng, tương ứng mức nhảy vọt 27.666 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử các lần tăng vốn của nhà băng này.
aa
Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ Hành trình tăng vốn điều lệ lên hơn 61.000 tỷ đồng của ngân hàng MB Những ngân hàng tụt lại phía sau khi đề xuất tăng hệ số CAR lên 10,5%

Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank - Mã: VCB) vừa công bố nghị quyết của hội đồng quản trị về việc phê duyệt kế hoạch tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức.

Nhìn lại hành trình tăng vốn

Cụ thể, ngày 14/1, Hội đồng quản trị Ngân hàng Vietcombank đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-VCB-HĐQT về việc phê duyệt tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu để trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận còn lại sau thuế, sau trích lập các quỹ lũy kế đến hết năm 2018 và lợi nhuận còn lại năm 2021.

Vietcombank sẽ phát hành gần 2,77 tỷ cổ phiếu với tỷ lệ 49,5% cho các cổ đông có tên trong danh sách cổ đông của Vietcombank tại thời điểm chốt quyền. Thời gian thực hiện trong năm 2025. Tổng giá trị dự kiến phát hành là 27.666 tỷ đồng. Sau đợt phát hành này, vốn điều lệ của Vietcombank sẽ tăng từ 55.891 tỷ đồng lên gần 83.557 tỷ đồng.

Ngoài kế hoạch chia cổ tức, Vietcombank còn cho biết, sẽ phát hành riêng lẻ 6,5% vốn cho các nhà đầu tư tổ chức, tương đương 1,3 tỷ USD dự kiến hoàn tất trong nửa đầu năm 2025 nếu thị trường thuận lợi.

Với vai trò là ngân hàng chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường, ngày 30/11/2024, Vietcombank được Quốc hội chấp thuận chủ trương tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận để lại, nâng vốn điều lệ lên mức 83.600 tỷ đồng, cao nhất trong hệ thống tổ chức tín dụng, khẳng định vai trò “sếu đầu đàn” trong ngành tài chính ngân hàng.

Vietcombank là ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu 74,8% vốn điều lệ. Dù là ngân hàng dẫn đầu về quy mô về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ suốt nhiều năm qua, tỷ lệ nợ xấu cũng thấp nhất hệ thống nhưng tính đến đầu năm 2024, vốn điều lệ của Vietcombank chỉ đứng thứ 4 toàn hệ thống, xếp sau hai ngân hàng thương mại tư nhân khác.

Dù lợi nhuận chưa phân phối của Vietcombank trên 100.000 tỷ đồng, nhưng việc tăng vốn của "ông lớn" quốc doanh này gặp không ít trắc trở, có nhiều khoảng chững so với ngân hàng tư nhân.

Tăng vốn "nhảy vọt", một ngân hàng dẫn đầu vốn điều lệ toàn ngành
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Tính trong 10 năm trở lại đây, giai đoạn 2015 đến nay, Vietcombank trải qua 5 lần tăng vốn, với mức tăng 3.476 tỷ đồng (năm 2014); 9.328 tỷ đồng (năm 2016), 1.111 tỷ đồng (năm 2019). Tiếp đó, năm 2022 tăng thêm 10.237 tỷ đồng; tăng 8.566 tỷ đồng năm 2023, đưa vốn điều lệ Vietcombank lên 55.891 tỷ đồng như hiện hành.

Gần đây nhất, năm 2023, Vietcombank đã hoàn thành tăng vốn từ lợi nhuận 2020 và lợi nhuận còn lại năm 2019 với tỷ lệ 18,1%, đưa vốn điều lệ lên gần 55.891 tỷ đồng, tăng 8.566 tỷ đồng.

Trước đó, năm 2022, bên cạnh việc trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 12%, Vietcombank đã trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 27,6%, tăng vốn điều lệ lên mức 47.325 tỷ đồng, tương ứng tăng 10.237 tỷ đồng. Năm 2016, Vietcombank tăng vốn điều lệ từ 26.650 tỷ đồng lên 35.977 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 9.328 tỷ đồng, thông qua việc phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 35% cho cổ đông hiện hữu.

Trong khi đó, với các ngân hàng tư nhân quy mô lớn, bước nhảy tăng vốn điều lệ cao hơn rất nhiều, lên tới 20-30 nghìn tỷ đồng. Điều này phần nào hạn chế năng lực tài chính và khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng quốc doanh, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng tư nhân liên tục tăng vốn mạnh mẽ thông qua phát hành cổ phiếu từ lợi nhuận giữ lại.

Giữ vững vị thế “sếu đầu đàn”

Giới phân tích cho rằng, việc tăng vốn từ lợi nhuận giữ lại không chỉ cải thiện hệ số an toàn, giúp Vietcombank duy trì mức độ an toàn tài chính, đảm bảo khả năng phát triển tín dụng, mà còn duy trì tỷ lệ sở hữu và sự kiểm soát của Nhà nước đối với Vietcombank.

Điều này đặc biệt quan trọng khi ngân hàng quốc doanh này vừa phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ đảm bảo mục tiêu phát triển kinh doanh, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị như việc nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (CB) vừa qua.

Tăng vốn
Tăng vốn "nhảy vọt", một ngân hàng dẫn đầu vốn điều lệ toàn ngành.

Hơn nữa, việc tăng vốn điều lệ lần này còn mang ý nghĩa chiến lược giúp ngân hàng Việt tiến thêm một bước quan trọng trong việc lọt top 100 khu vực và thế giới.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, một chuyên gia tài chính - ngân hàng cho rằng, còn một chặng đường dài để ngân hàng Việt Nam tiến vào top ngân hàng khu vực khi tổng tài sản phải lên tới 100 - 300 tỷ USD. Nhẩm tính tổng tài sản ngân hàng 100 tỷ USD cần tối thiểu 8 tỷ USD vốn tự có; quy mô tổng tài sản 200 tỷ USD phải cần 16 tỷ USD. Tại thời điểm này, các ngân hàng lớn nhất của Việt Nam vẫn cách xa mức này.

Về kết quả kinh doanh, tại Hội nghị tổng kết công tác Đảng và hoạt động kinh doanh năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, đến cuối năm 2024, tổng dư nợ cấp tín dụng của ngân hàng đạt trên 1,44 triệu tỷ đồng, tăng gần 14%. Tổng tài sản lần đầu vượt mốc 2 triệu tỷ đồng, tăng 13% so với mức thực hiện cuối năm 2023.

Dẫn đầu toàn ngành nhiều chỉ tiêu

Hiệu quả kinh doanh và chất lượng tài sản tiếp tục dẫn đầu ngành ngân hàng. Lợi nhuận hoàn thành kế hoạch đề ra, với lợi nhuận trước thuế đạt trên 41.000 tỷ đồng, cao nhất ngành ngân hàng và hoàn thành kế hoạch do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 0,97%, tốt hơn mặt bằng chung và trong mức trần kiểm soát của NHNN và Đại hội đồng cổ đông. Thu nợ ngoại bảng tăng 79% so với năm 2023.

Tổng số nộp ngân sách nhà nước năm 2024 đạt gần 12.000 tỷ đồng; tích lũy 5 năm, trên 48.000 tỷ đồng và là một trong những doanh nghiệp đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

(TBTCO) - FTSE Russell vừa công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) khu vực châu Á – Thái Bình Dương (không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc). Theo đó, cổ phiếu SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) là 1 trong 27 cổ phiếu Việt Nam mới được đưa vào FTSE Global All Cap Index. Thay đổi dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Điều này có thể giúp SSB được nhiều quỹ và nhà đầu tư quốc tế theo dõi hơn, kéo theo cơ hội gia tăng thanh khoản, thu hút dòng tiền và hỗ trợ giá cổ phiếu.
Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

(TBTCO) - Bảo hiểm nhân thọ không phải khoản tiết kiệm có lãi suất cố định, cũng không phải kênh đầu tư hứa hẹn sinh lời cao. Giá trị cốt lõi của sản phẩm là bảo vệ tài chính trước những rủi ro khó lường. Để khách hàng thực sự “hiểu đúng để yên tâm”, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai khách hàng với yêu cầu đọc kỹ hợp đồng; doanh nghiệp và người tư vấn phải cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, minh bạch ngay từ thời điểm tham gia.
Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 30 USD/ounce, xuống mức 4.604 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cùng đi xuống, có nơi giảm tới 1,3 triệu đồng/lượng.
Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

(TBTCO) - Khối ngoại đang sở hữu 20,54% vốn Techcombank, trong khi giới hạn tối đa là 22,5386%, khiến room ngoại chỉ còn khoảng 2 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hai “ông lớn” ngân hàng Pháp và Hàn Quốc được cho là đang đàm phán mua ít nhất 15% vốn Techcombank trị giá khoảng 2 tỷ USD, phương án nhận chuyển nhượng cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu được đặt ra.
12 ngân hàng dành 408.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi, tiếp sức tăng trưởng

12 ngân hàng dành 408.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi, tiếp sức tăng trưởng

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 12 ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình tín dụng ưu đãi quy mô khoảng 408.000 tỷ đồng, hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng kinh tế cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,570 ▼150K 14,920 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,570 ▼150K 14,920 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,570 ▼150K 14,920 ▼100K
NL 99.99 14,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900 ▼100K
Trang sức 99.9 14,230 ▼100K 14,830 ▼100K
Trang sức 99.99 14,240 ▼100K 14,840 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 ▼15K 14,872 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 ▼15K 14,873 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 ▼15K 1,482 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 ▼15K 1,483 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 ▼15K 1,472 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 ▼1485K 145,743 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▼1125K 110,561 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 ▼1020K 100,256 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 ▼915K 89,951 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 ▼875K 85,976 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 ▼625K 61,539 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cập nhật: 29/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18128 18403 18997
CAD 18215 18491 19122
CHF 31563 31943 32604
CNY 0 3833 3931
EUR 29565 29786 30884
GBP 34475 34867 35824
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15096 15698
SGD 19903 20185 20776
THB 702 765 818
USD (1,2) 25808 0 0
USD (5,10,20) 25848 0 0
USD (50,100) 25876 25890 26270
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,861 25,891 26,290
USD20 25,841 25,891 26,840
USD1 24,330 25,891 26,890
AUD 18,443 18,543 19,656
EUR 29,690 29,790 31,447
CAD 18,407 18,507 19,811
SGD 20,211 20,361 21,617
JPY 160.31 161.81 167.36
GBP 34,791 34,941 36,315
XAU 14,668,000 0 14,972,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/08/2026 10:00
Ngân hàng