Thị trường tiền tệ tuần 15-19/4:

Rục rịch cho kế hoạch đấu thầu vàng, lãi suất liên ngân hàng tiến sát đỉnh

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, ghi nhận thông tin đáng chú ý về việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) rục rịch cho việc chuẩn bị giải pháp đấu thầu vàng miếng SJC để tăng nguồn cung vàng ra thị trường. Trong khi đó, điểm đáng chú ý nữa là động thái tăng sát ngưỡng tối đa của lãi suất qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
aa

Ngân hàng Nhà nước công bố các thông tin cơ bản quý I

Cuối tuần, NHNN đã họp báo công bố các thông tin cơ bản trong quý I/2024. Diễn biến lãi suất được công bố trong họp báo cho thấy, đến ngày 31/3/2024, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 3,02%/năm, giảm 0,5% so với cuối năm 2023 và lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,5%/năm, giảm 0,6%/năm so với cuối năm 2023.

Về tín dụng, đến ngày 29/3, tín dụng nền kinh tế tăng 1,34% so với cuối năm 2023. NHNN cho biết, tăng trưởng tín dụng thời điểm đầu năm 2024 khá thấp so với các năm gần đây, trong đó có nguyên nhân do nhu cầu vốn tín dụng thường tăng cao vào dịp cuối năm và thời điểm trước Tết Nguyên đán.

Cầu và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế ở mức thấp do nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng hoạt động... Do đó, NHNN ban hành công văn số 1088/NHNN-CSTT chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) đẩy mạnh các giải pháp đã được Thống đốc NHNN đề ra tại Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 15/1/2024 nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tiếp đó, NHNN đã tổ chức Hội nghị trực tuyến về đẩy mạnh tín dụng ngân hàng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2024.

Rục rịch cho kế hoạch đấu thầu vàng, lãi suất liên ngân hàng tiến sát đỉnh
Cuộc họp báo về hoạt động ngân hàng quý I diễn ra sáng 19/4. Ảnh: C.T
Lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy vào quý II/2024? Fed phát tín hiệu trì hoãn cắt giảm lãi suất

Lãi suất liên ngân hàng tiến sát đỉnh

Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tiếp tục tăng cao trong tuần qua và đạt tới 4,94%, sát mốc 5% theo quy định trần lãi suất của NHNN. Với các kỳ hạn khác, lãi suất 1 tuần đã lên tới 5,25%, kỳ hạn 2 tuần là 4,73%, kỳ hạn 1 tháng là 4,54%, kỳ hạn 3 tháng là 4,66%...

Lãi suất liên ngân hàng tăng cao nhất trong gần 1 năm qua

Mức lãi suất qua đêm thời điểm hiện nay là mức cao nhất trong gần 1 năm qua. Trước đó, lãi suất giai đoạn đầu tháng 5/2023 có lúc đã ở ngưỡng trên 5%.

Sau đó vào giữa tháng 6/2023, NHNN đã ban hành Quyết định số 1123/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Tại quyết định này, lãi suất liên ngân hàng qua đêm được quy định giảm về mức tối đa là 5%.

Trong khi đó, lãi suất tín phiếu phát hành thông qua đấu thầu trên thị trường mở cũng đang có xu hướng tăng. Riêng phiên ngày 19/4, NHNN phát hành 4,25 nghìn tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 này với lãi suất 3,73%, đây cũng là mức lãi suất khá cao so với mặt bằng lãi suất các phiên đầu thầu giữa tháng 3, khi đó chỉ khoảng 1,4%.

Phiên 19/4 cũng ghi nhận động thái của NHNN vừa bán vừa mua tín phiếu, bởi trong phiên này NHNN cũng đã thực hiện mua vào gần 3,2 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày với lãi suất 4%.

Tỷ giá tiếp tục tăng

Tuần qua cũng ghi nhận xu hướng tiếp tục tăng của tỷ giá. Tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm đầu tuần là 25.300 đồng/USD, tăng 120 đồng mỗi Đô la và tiếp tục tăng đều trong cả tuần, chốt tuần ở mức 25.473 đồng/USD.

Theo NHNN, tỷ giá USD đã tăng khoảng 4,9% so với đầu năm nhưng quan điểm NHNN thời gian qua vẫn tiếp điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thụ các cú sốc, kết hợp với phát hành tín phiếu VND nhằm giảm bớt dư thừa thanh khoản VND, qua đó giảm bớt áp lực trong ngắn hạn đối với tỷ giá.

Về cơ bản, thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ; tỷ giá diễn biến phù hợp với điều kiện thị trường và xu hướng của các đồng tiền quốc tế so với USD.

Rục rịch cho kế hoạch đấu thầu vàng, lãi suất liên ngân hàng tiến sát đỉnh
Tỷ giá USD đã tăng 4,9% kể từ đầu năm. Ảnh: T.L

Bối cảnh tỷ giá hiện nay cho thấy, không chỉ đồng Việt Nam mất giá mà đó là diễn biến chung của sự tăng giá đồng Đô la Mỹ trên thị trường tài chính quốc tế. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của Đô la Mỹ đã tăng khoảng 5% từ đầu năm đến nay. Điều này cho thấy 5 đồng tiền chủ chốt khác của thế giới (Euro châu Âu, Yên Nhật, Bảng Anh, Đô la Canada, Krona Thụy Điển, Franc Thụy Sỹ) cũng đều đang mất giá so với USD.

Trong khi đó, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, tỷ giá VND/USD tăng 4,9% thực là mức tăng thấp so với mức tăng 5% của DXY so với 5 ngoại tệ trên vì còn phải so sánh trên cơ sở quy mô của nền kinh tế của ta rất nhỏ so với các quốc gia có 5 đồng tiền tệ nêu trên.

Rục rịch cho thực hiện đấu thầu vàng

Giá vàng trong nước tuần qua đã tạm thời dừng đà tăng nhưng vẫn tiếp tục neo giá ở mức cao. Cụ thể vào hôm 19/4, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận mức mua vào 81,8 triệu đồng/lượng và bán ra 83,8 triệu đồng/lượng; giá vàng nhẫn SJC 9999 ghi nhận mua vào 74,8 triệu đồng/lượng và bán ra mức 76,7 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng vẫn diễn biến phức tạp và đỉnh điểm sức nóng diễn ra hôm 18/4 khi vọt lên mốc 2.415 USD/ounce, sau đó có phần hạ nhiệt vào 19/4 nhưng vẫn ở mặt bằng giá tới 2.380 USD/ounce.

NHNN cho biết, từ đầu năm 2024 đến nay, giá vàng quốc tế biến động theo xu hướng tăng là chủ đạo, trong đó có nguyên nhân cho thấy nhu cầu về vàng tăng; ngân hàng trung ương một số nước tăng mua vàng; tâm lý lo ngại tình hình xung đột Nga-Ukraine, căng thẳng tại Trung Đông…Trong nước, giá vàng miếng SJC bình quân biến động tăng theo giá vàng quốc tế.

Trong bối cảnh này, NHNN đang triển khai các biện pháp hỗ trợ thị trường vàng, bán vàng miếng để tăng cung cho thị trường thông qua hình thức đấu thầu. Trong đó, NHNN cũng đã có văn bản gửi Bộ Công an đề nghị phối hợp cùng NHNN trong tổ chức hoạt động đấu thầu vàng miếng SJC để đảm bảo hoạt động đấu thầu được an toàn, hiệu quả.

Thực hiện đúng các quy định về hóa đơn

NHNN cũng đã có văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng nghiêm túc thực hiện đúng chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính; áp dụng hóa đơn điện tử trong việc thực hiện các giao dịch mua, bán vàng để nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động mua, bán vàng, đặc biệt là mua, bán vàng miếng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 14,250
Miếng SJC Nghệ An 13,950 14,250
Miếng SJC Thái Bình 13,950 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 14,250
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 14,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 14,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 139,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 105,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 9,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 86,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 82,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 58,953
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cập nhật: 30/09/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17609 17882 18471
CAD 17766 18040 18659
CHF 30480 30856 31501
CNY 0 3832 3928
EUR 28810 29029 30117
GBP 33546 33934 34877
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14331 14921
SGD 19779 20061 20631
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 28,859 28,882 30,251
JPY 160.81 161.1 170.83
GBP 33,722 33,813 34,996
AUD 17,812 17,876 18,560
CAD 17,952 18,010 18,673
CHF 30,728 30,824 31,736
SGD 19,897 19,959 20,741
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,242 3,252 3,389
KRW 17.62 18.38 20
THB 737.78 746.89 799.96
NZD 14,319 14,452 14,884
SEK - 2,553 2,644
DKK - 3,871 4,007
NOK - 2,658 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.13 - 6,716.14
TWD 735.72 - 891.37
SAR - 6,797.54 7,160.41
KWD - 82,113 87,377
AED - 6,815 7,344
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17795 17895 18826
CAD 17948 18048 19063
CHF 30721 30751 32333
CNY 3814.6 3839.6 3975
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28994 29024 30747
GBP 33845 33895 35664
HKD 0 3315 0
JPY 161.55 162.05 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14444 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19941 20071 20792
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 30/09/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30