Số hóa giúp các ngân hàng tiết giảm tới 70% chi phí

Mạnh Nguyễn (thực hiện)
(TBTCVN) - Công nghệ số đang dần thay đổi cơ bản hình thức cung ứng các dịch vụ tài chính ngân hàng và làm thay đổi diện mạo ngành Ngân hàng. Số hóa giúp các ngân hàng tiết giảm tới 70% chi phí...
aa

so

Số hóa giúp các ngân hàng tiết kiệm đến 60 - 70% chi phí

Tuy nhiên, sự phát triển và ứng dụng công nghệ số trong ngành ngân hàng cũng đi kèm không ít thách thức đòi hỏi thay đổi từ cả khuôn khổ pháp lý, vốn đầu tư lớn, chất lượng nguồn nhân lực, cũng như năng lực kiểm soát, xử lý rủi ro... trong hoạt động ngân hàng thời kỳ số hóa. Đây là chia sẻ của ông Phạm Xuân Hòe – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

PV: Thưa ông, cách mạng công nghiệp 4.0 đang hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi diện mạo các ngân hàng (NH), các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính trên thế giới. Vậy ở Việt Nam, ngành NH đang ở đâu trên tiến trình chuyển đổi số, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Hòe: Các chuyên gia về công nghệ thông tin cho rằng, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực NH đi qua 3 nấc thang: Số hóa (chuyển đổi các quy trình thủ công, truyền thống sang quy trình số, trực tuyến qua máy tính và internet); chuyển đổi kỹ thuật số (số hóa toàn bộ doanh nghiệp để gia tăng trải nghiệm của khách hàng, hỗ trợ khách hàng những gì họ cần và muốn) và tái tạo số (kết hợp công nghệ và nền tảng kỹ thuật số chưa từng có trước đây để tạo doanh thu và kết quả thông qua các chiến lược, sản phẩm và trải nghiệm sáng tạo).

hoe

Ông Phạm Xuân Hòe

Theo cách phân đoạn này, hầu hết các NH ở Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi kỹ thuật số (giai đoạn 2). Theo đó, hiện nay, phần lớn các NH Việt Nam đã triển khai NH số ở cấp độ chuyển đổi về quy trình và kênh giao tiếp, trong khi chuyển đổi về nền tảng dữ liệu mới được triển khai tại một số NH tiên phong.

Tựu chung lại có thể thấy, hiện nay, các NH thương mại Việt Nam khá tích cực trong việc số hóa các hoạt động NH của mình với 2 cách tiếp cận điển hình. Một là, tập trung tăng cường trải nghiệm khách hàng, thu hút khách hàng bằng cách mở rộng tương tác với khách hàng thông qua các minigame (trò chơi nhỏ). Xu hướng thứ hai là các NH cũng lấy khách hàng làm trung tâm nhưng đã tập trung vào việc số hóa quy trình vận hành và quy trình xử lý nội bộ trong NH…

PV: Vậy đâu là những cơ hội và thách thức từ việc số hóa NH, thưa ông?

Phạm Xuân Hòe: Trước hết về cơ hội có thể thấy, việc số hóa NH có thể làm thay đổi diện mạo của các NH và tạo ra nhiều giá trị mới như làm tăng trải nghiệm khách hàng; chất lượng vận hành, dịch vụ tốt hơn, hiệu quả hơn; giảm chi phí vận hành; nhiều dịch vụ sáng tạo hơn; an toàn bảo mật cao hơn…

Một kết quả khảo sát tại các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam của NHNN cho thấy, số hóa giúp các NH tiết kiệm đến 60 - 70% chi phí và một khi đã tiếp cận với số hóa, các NH có xu hướng tiếp cận ngày càng sâu hơn với dịch vụ NH số, tích hợp đa chiều trong cung ứng dịch vụ tài chính trọn gói…

Minh họa cho các lợi ích này có thể thấy, nhiều NH trên thế giới đã cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ ưu việt cho khách hàng, tăng trải nghiệm cho khách hàng khi thực hiện số hóa NH, chẳng hạn như: mua bảo hiểm du lịch trên ví điện tử, ứng dụng NH cảm ứng, tài khoản tiền gửi liên kết với ví điện tử, ứng dụng NH sử dụng mã bảo mật mềm, mở tài khoản từ xa, các dịch vụ thanh toán nhanh theo thời gian gần như thực, ứng dụng webchat và chatbox nhằm tự động hóa quá trình chăm sóc khách hàng, sử dụng robot tư vấn viên trong tư vấn đầu tư…

Bên cạnh những cơ hội, lợi ích khi thực hiện chuyển đổi số, các NH cũng gặp phải không ít khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện chuyển đổi số.

Trước hết đó là, khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ, còn khuyết thiếu hoặc chồng chéo nên chưa đáp ứng được yêu cầu tạo thuận lợi để hệ thống NH thích ứng với bối cảnh số hóa. Đây là thách thức lớn và đáng quan tâm nhất ở Việt Nam. Theo một khảo sát của Viện Chiến lược NH, có tới 84% ý kiến từ các TCTD cho rằng khó khăn, thách thức lớn cho quá trình số hóa NH là hành lang pháp lý thiếu và không đồng bộ.

Bên cạnh đó, trong quá trình số hóa, các NH cũng gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ trong kinh doanh từ nhiều đối thủ mới như các NH ảo, các công ty công nghệ tài chính lớn và các hoạt động NH nằm ngoài phạm vi các NH. Cùng với đó, những rủi ro an ninh mạng, các cuộc tấn công mạng lớn cũng là một quan ngại hàng đầu mà các TCTD phải đối mặt. Chẳng hạn như, trên thế giới đã có trường hợp những tội phạm công nghệ cao có thể tạo ra những con robot đánh cắp tiền trong tài khoản khách hàng và ngay lập tức có thể chuyển qua hàng nghìn tài khoản khác nhau. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế cũng là một quan ngại trong hệ thống các TCTD khi thực hiện chuyển đổi số…

PV: Từ thực trạng trên, theo ông, để tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình chuyển đổi số ngành NH cần phải làm gì?

Ông Phạm Xuân Hòe: Tôi cho rằng, trước hết về phía Nhà nước, cần có quan điểm mở tạo hành lang pháp lý cho đổi mới sáng tạo, cân bằng giữa quản lý an toàn với đổi mới sáng tạo (đi liền với rủi ro). Đặc biệt, Chính phủ cũng cần sớm xây dựng các khuôn khổ pháp lý thử nghiệm trong lĩnh vực NH, mới đây Chính phủ cho phép triển khai thí điểm Mobile money mới chỉ là khởi đầu…

Cùng với đó, đề nghị Chính phủ sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia để tạo điều kiện kết nối mở cho các TCTD truy xuất theo thẩm quyền được duyệt; có hành lang pháp lý đầy đủ về chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện các hệ thống hạ tầng kỹ thuật số quan trọng hỗ trợ giao dịch thương mại, tài chính trong kỷ nguyên số như hạ tầng bưu chính viễn thông, hạ tầng mạng, hạ tầng thanh toán quốc gia…

Về phía các TCTD, các NH cần định hình chiến lược kinh doanh khi chuyển đổi số hóa theo kịch bản phù hợp với năng lực của NH mình. Ngoài ra, các TCTD cũng cần chú trọng thực hiện nghiêm ngặt các giải pháp về quản trị rủi ro, an ninh, bảo mật, đảm bảo dữ liệu người tiêu dùng và tăng cường đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực thích ứng với thời kỳ số hóa…

PV: Xin cảm ơn ông!

Ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến

Hiện nay, ngành Ngân hàng đang ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính như internet kết nối vạn vật (IoT), trí tuệ thông minh nhân tạo (AI), học máy (ML), phân tích dữ liệu nâng cao, công nghệ sổ cái phân tán (DLT), điện toán đám mây và các giao diện lập trình ứng dụng (APIs)…

Mạnh Nguyễn (thực hiện)

Mạnh Nguyễn (thực hiện)

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

(TBTCO) - PGBank lãi trước thuế 439,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 65,8% so với cùng kỳ nhờ đà tăng các nguồn thu ngoài lãi và chi phí dự phòng giảm; dư nợ cho vay khách hàng tăng 4,3%, lên 48.349 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đã hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 7.327 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

(TBTCO) - ACB lãi trước thuế 10.735 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, hoàn thành 107% kế hoạch bán niên. NIM cải thiện lên 3,02%, dư nợ cho vay khách hàng đạt gần 746 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với đầu năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng bình quân của toàn ngành.
KienlongBank báo lãi 6 tháng hơn 1.176 tỷ đồng, hoàn thành 45% kế hoạch năm

KienlongBank báo lãi 6 tháng hơn 1.176 tỷ đồng, hoàn thành 45% kế hoạch năm

(TBTCO) - KienlongBank (KLB) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 655 tỷ đồng, tăng trưởng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này nâng tổng lợi nhuận trước thuế lũy kế 6 tháng đầu năm lên 1.176 tỷ đồng, bứt phá mạnh mẽ 27,6% so với nửa đầu năm 2025.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,000 140,000
Hà Nội - PNJ 135,000 140,000
Đà Nẵng - PNJ 135,000 140,000
Miền Tây - PNJ 135,000 140,000
Tây Nguyên - PNJ 135,000 140,000
Đông Nam Bộ - PNJ 135,000 140,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,500 14,000
Miếng SJC Nghệ An 13,500 14,000
Miếng SJC Thái Bình 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 14,000
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,190 13,890
Trang sức 99.99 13,200 13,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 135 14,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 135 14,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 134 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 134 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 131 137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,644 135,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,311 10,291
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,519 93,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,928 83,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,229 80,029
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,485 57,285
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Cập nhật: 24/07/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17853 18127 18700
CAD 18168 18444 19060
CHF 31603 31983 32624
CNY 0 3844 3936
EUR 29355 29576 30651
GBP 34288 34679 35607
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14922 15509
SGD 19845 20127 20695
THB 695 758 812
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26498
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26500
AUD 18007 18107 19032
CAD 18347 18447 19460
CHF 31810 31840 33422
CNY 3824.4 3849.4 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29507 29537 31262
GBP 34542 34592 36353
HKD 0 3355 0
JPY 157.18 157.68 168.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15006 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20841
THB 0 723.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13400000 13400000 13900000
SBJ 12500000 12500000 13900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,510
USD20 26,147 26,197 26,510
USD1 26,147 26,197 26,510
AUD 18,064 18,164 19,277
EUR 29,309 29,409 31,068
CAD 18,291 18,391 19,698
SGD 20,068 20,218 20,783
JPY 157.69 159.19 164.72
GBP 34,446 34,596 35,669
XAU 13,450,000 0 13,952,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/07/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80