Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Thanh khoản biến động mạnh hơn, khó duy trì mặt bằng lãi suất thấp

Trong báo cáo đánh giá vĩ mô mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, tại thị trường Việt Nam, thanh khoản VND trong hệ thống ngân hàng vẫn tương đối căng thẳng.

Trong khi đó, nhu cầu tín dụng vẫn duy trì ở mức cao và tăng nhanh hơn huy động. Điều này khiến hệ thống xuất hiện một trạng thái khá đặc biệt: thanh khoản ngắn hạn có thể được cải thiện tại từng thời điểm, nhưng cấu trúc thanh khoản ở các kỳ hạn dài hơn vẫn căng thẳng.

Thực tế, gần đây, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm đã giảm mạnh, trong khi các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng vẫn cao hơn đáng kể, cho thấy thanh khoản ngắn hạn và thanh khoản có kỳ hạn đang diễn biến rất khác nhau.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
VDSC đề xuất nới cơ chế sử dụng hơn 700 nghìn tỷ đồng tiền gửi Kho bạc. Ảnh: Đức Thanh.

Trong cấu trúc đó, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh, trở thành một nguồn huy động có ý nghĩa quan trọng.

“Tiền gửi Kho bạc không thể sử dụng như tiền gửi ngắn hạn. Vì vậy, việc Kho bạc Nhà nước cung cấp thanh khoản có thể giúp giảm áp lực tại một số thời điểm, nhưng không giải quyết hoàn toàn vấn đề cấu trúc huy động” - nhóm phân tích của VDSC nêu rõ.

Thống kê của VDSC cho thấy, cuối năm 2025, Kho bạc Nhà nước có hơn 400 nghìn tỷ đồng tiền gửi tại các ngân hàng quốc doanh; đến giữa tháng 3/2026, con số này được báo cáo đã tăng lên khoảng 600 nghìn tỷ đồng và hiện tại là hơn 700 nghìn tỷ đồng.

Điều đáng chú ý, đây không phải một nguồn vốn có thể dễ dàng thay thế cho tiền gửi khách hàng.

Trong các phân tích trước đây, VDSC nhiều lần đề cập về lượng tiền gửi Kho bạc ngày càng lớn, cơ chế truyền dẫn thanh khoản giữa thị trường 1 và thị trường liên ngân hàng trở nên rõ nét hơn.

Khi đó, các biến động thanh khoản tại thị trường 2 có thể nhanh chóng truyền xuống thị trường 1, trong khi những thiếu hụt thanh khoản tại thị trường 1 lại có xu hướng phản hồi ngược trở lại thị trường 2.

Kết quả là trạng thái thanh khoản của toàn hệ thống trở nên biến động mạnh hơn, khiến các ngân hàng ngày càng khó duy trì mặt bằng lãi suất thấp một cách ổn định.

Đáng lưu ý, dự thảo thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (nếu được thông qua) tiếp tục duy trì các tỷ lệ CDR (dư nợ cấp tín dụng trên huy động vốn) theo hướng tạo ra sự phân tách rõ hơn giữa các nguồn vốn và các khu vực thanh khoản, khả năng sử dụng tiền gửi Kho bạc như một nguồn lực để tái phân bổ và quay vòng trong hệ thống sẽ càng trở nên hạn chế.

Điều này có thể làm giảm khả năng hấp thụ và tái cân bằng thanh khoản của thị trường.

Mặc dù đã xuất hiện nhiều thông tin và kỳ vọng về những thay đổi tiếp theo, nhưng cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa đưa ra một bước điều chỉnh mới đủ rõ ràng.

Tỷ trọng vốn dài hạn gia tăng, ngân hàng chịu sức ép từ hai phía

Trong khi đó, các ngân hàng đang phải đối mặt với bài toán cân đối nguồn vốn ngày càng phức tạp. Mặt bằng lãi suất huy động cao đã tạo áp lực trực tiếp lên chi phí vốn, trong khi biên lãi ròng (NIM) tiếp tục chịu sức ép từ xu hướng giảm lãi suất cho vay. Điều này khiến khả năng hấp thụ chi phí vốn cao của hệ thống ngân hàng ngày càng hạn chế.

“Vấn đề còn trở nên đáng chú ý hơn khi xét đến sự thay đổi về kỳ hạn của nguồn vốn. Như chúng tôi đã phân tích trong bài viết trước, dòng tiền quay vòng trở lại hệ thống trong môi trường lãi suất cao không chỉ gia tăng về chi phí, mà còn có xu hướng dịch chuyển mạnh về phía kỳ hạn dài. Nói cách khác, ngay cả khi dòng tiền tiếp tục quay vòng trong hệ thống ngân hàng, nguồn vốn đó vẫn chủ yếu được duy trì ở các kỳ hạn dài hơn” - nhóm phân tích của VDSC nêu rõ.

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với chi phí vốn của ngân hàng. Khi tỷ trọng nguồn vốn dài hạn gia tăng, chi phí huy động (COF) thực tế có thể cao hơn đáng kể so với mức được phản ánh đơn thuần qua mặt bằng lãi suất huy động bình quân. Trong khi đó, NIM lại tiếp tục bị thu hẹp bởi áp lực giảm lãi suất cho vay.

Ngân hàng vì vậy đang chịu áp lực từ cả hai phía. Một mặt, phải huy động nguồn vốn với chi phí cao và kỳ hạn dài hơn. Mặt khác, lại phải đối mặt với yêu cầu duy trì hoặc giảm lãi suất cho vay. Đồng thời, áp lực phát hành chứng chỉ tiền gửi (CD) và trái phiếu tổ chức tín dụng (FiBond) tiếp tục kéo cấu trúc nguồn vốn về phía kỳ hạn dài.

“Hệ quả là nguồn tiền gửi ở kỳ hạn ngắn ngày càng trở nên quan trọng, nhưng nguồn cung này lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước - một nguồn vốn mà ngân hàng không thể chủ động kiểm soát” - nhóm phân tích của VDSC lưu ý./.

Nhóm phân tích của VDSC cho rằng, vấn đề cần được xem xét trước mắt không nhất thiết là một biện pháp can thiệp mạnh vào mặt bằng lãi suất, mà là xem xét cơ chế tiếp cận và sử dụng nguồn tiền gửi Kho bạc trong hệ thống.

“Cần xem xét khả năng cho phép tiền gửi Kho bạc được tính gần với bản chất của một nguồn tiền gửi thị trường 1 hơn trong các giới hạn cấu trúc liên quan. Điều này sẽ giúp giảm bớt sự phân tách nhân tạo giữa các nguồn vốn, đồng thời tạo điều kiện để nguồn tiền từ Kho bạc Nhà nước có thể được tái phân bổ hiệu quả hơn trong hệ thống ngân hàng” - VSDC đề xuất.

Nếu cơ chế này tiếp tục bị giới hạn, trong khi nguồn vốn dài hạn ngày càng dư thừa tương đối so với nguồn vốn ngắn hạn ngày càng khan hiếm, áp lực thanh khoản sẽ không chỉ tồn tại ở kỳ hạn dài, mà có khả năng lan sang cả kỳ hạn ngắn.

Vấn đề khi đó không còn đơn thuần là câu chuyện về mặt bằng lãi suất, mà trở thành vấn đề về cấu trúc và khả năng luân chuyển của nguồn vốn trong toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

(TBTCO) - HDBank ghi dấu ấn trên bản đồ tài chính khu vực khi đứng thứ 2 về hiệu quả hoạt động trong bảng xếp hạng năm 2025 của S&P Global Market Intelligence dành cho 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời giữ vị trí cao nhất trong nhóm ngân hàng Việt Nam được đánh giá.
LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

(TBTCO) - Hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1 sau 5 tháng triển khai, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) chính thức đưa phiên bản mới vào vận hành từ ngày 4/10/2026, tạo bước tiến về năng lực xử lý, kết nối và an toàn giao dịch. Không chỉ củng cố hạ tầng thanh toán, đây còn là tiền đề để LPBank nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 2 với gần 50 tính năng, giải pháp và dịch vụ mới, góp phần nâng tầm trải nghiệm thanh toán số cho khách hàng.
Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings vừa nâng xếp hạng tiền gửi dài hạn và xếp hạng nhà phát hành của Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) từ B2 lên B1, đồng thời duy trì triển vọng Tích cực, ghi nhận những cải thiện về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời và năng lực vốn của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 7/10, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.645 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY giảm 0,25% xuống 101,85 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để tìm thêm tín hiệu chính sách.
Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

(TBTCO) - Các “thước đo”, giới hạn và tỷ lệ an toàn mới đặt ngân hàng trước những bài kiểm tra về độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản khi dòng tiền căng thẳng và sức chống đỡ rủi ro của nền vốn, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel III. Qua đó, “sức khỏe” và khả năng chống chịu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.
Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

(TBTCO) - Vừa qua, tại Singapore, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Liên đoàn Sản xuất Singapore (SMF) tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam với chủ đề: “Việt Nam - Điểm sáng kinh doanh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

SSI Research đánh giá, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN tạo bước đệm nới lỏng trong ngắn hạn, khi nâng trần LDR từ 85% lên 95%. Về dài hạn, việc áp dụng các chỉ tiêu Basel III được đánh giá là bước đi đúng hướng, chuyển trọng tâm quản lý từ “số lượng” sang “chất lượng” bảng cân đối.
Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,000 14,300
Miếng SJC Nghệ An 14,000 14,300
Miếng SJC Thái Bình 14,000 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 14,300
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,580 14,180
Trang sức 99.99 13,590 14,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 14,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 14,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cập nhật: 08/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17545 17818 18397
CAD 17729 18003 18624
CHF 30566 30942 31584
CNY 0 3833 3929
EUR 28450 28667 29747
GBP 33532 33920 34868
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14240 14827
SGD 19759 20041 20612
THB 686 749 803
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26173
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 28,591 28,614 29,972
JPY 159.65 159.94 169.62
GBP 33,797 33,889 35,062
AUD 17,772 17,836 18,517
CAD 17,928 17,986 18,648
CHF 30,816 30,912 31,823
SGD 19,891 19,953 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,390
KRW 17.86 18.63 20.28
THB 735.58 744.66 797.56
NZD 14,247 14,379 14,808
SEK - 2,544 2,636
DKK - 3,835 3,971
NOK - 2,670 2,764
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,942.67 - 6,706.83
TWD 735.92 - 891.61
SAR - 6,803.67 7,166.81
KWD - 82,055 87,314
AED - 6,819 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 28,738 28,853 30,060
GBP 33,869 34,005 35,038
HKD 3,245 3,258 3,375
CHF 30,710 30,833 31,779
JPY 160.38 161.02 169
AUD 17,840 17,912 18,511
SGD 19,996 20,076 20,673
THB 754 757 794
CAD 17,969 18,041 18,640
NZD 14,361 14,917
KRW 18.73 20.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25805 26165
AUD 17751 17851 18782
CAD 17915 18015 19028
CHF 30780 30810 32387
CNY 3815.7 3840.7 3975.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28632 28662 30388
GBP 33870 33920 35683
HKD 0 3315 0
JPY 160.65 161.15 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14362 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19922 20052 20776
THB 0 715.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 08/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30