Thanh khoản còn căng, VDSC đề xuất nới cơ chế sử dụng hơn 700 nghìn tỷ đồng tiền gửi Kho bạc
Thanh khoản biến động mạnh hơn, khó duy trì mặt bằng lãi suất thấp
Trong báo cáo đánh giá vĩ mô mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, tại thị trường Việt Nam, thanh khoản VND trong hệ thống ngân hàng vẫn tương đối căng thẳng.
Trong khi đó, nhu cầu tín dụng vẫn duy trì ở mức cao và tăng nhanh hơn huy động. Điều này khiến hệ thống xuất hiện một trạng thái khá đặc biệt: thanh khoản ngắn hạn có thể được cải thiện tại từng thời điểm, nhưng cấu trúc thanh khoản ở các kỳ hạn dài hơn vẫn căng thẳng.
Thực tế, gần đây, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm đã giảm mạnh, trong khi các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng vẫn cao hơn đáng kể, cho thấy thanh khoản ngắn hạn và thanh khoản có kỳ hạn đang diễn biến rất khác nhau.
![]() |
| VDSC đề xuất nới cơ chế sử dụng hơn 700 nghìn tỷ đồng tiền gửi Kho bạc. Ảnh: Đức Thanh. |
Trong cấu trúc đó, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh, trở thành một nguồn huy động có ý nghĩa quan trọng.
| “Tiền gửi Kho bạc không thể sử dụng như tiền gửi ngắn hạn. Vì vậy, việc Kho bạc Nhà nước cung cấp thanh khoản có thể giúp giảm áp lực tại một số thời điểm, nhưng không giải quyết hoàn toàn vấn đề cấu trúc huy động” - nhóm phân tích của VDSC nêu rõ. |
Thống kê của VDSC cho thấy, cuối năm 2025, Kho bạc Nhà nước có hơn 400 nghìn tỷ đồng tiền gửi tại các ngân hàng quốc doanh; đến giữa tháng 3/2026, con số này được báo cáo đã tăng lên khoảng 600 nghìn tỷ đồng và hiện tại là hơn 700 nghìn tỷ đồng.
Điều đáng chú ý, đây không phải một nguồn vốn có thể dễ dàng thay thế cho tiền gửi khách hàng.
Trong các phân tích trước đây, VDSC nhiều lần đề cập về lượng tiền gửi Kho bạc ngày càng lớn, cơ chế truyền dẫn thanh khoản giữa thị trường 1 và thị trường liên ngân hàng trở nên rõ nét hơn.
Khi đó, các biến động thanh khoản tại thị trường 2 có thể nhanh chóng truyền xuống thị trường 1, trong khi những thiếu hụt thanh khoản tại thị trường 1 lại có xu hướng phản hồi ngược trở lại thị trường 2.
Kết quả là trạng thái thanh khoản của toàn hệ thống trở nên biến động mạnh hơn, khiến các ngân hàng ngày càng khó duy trì mặt bằng lãi suất thấp một cách ổn định.
Đáng lưu ý, dự thảo thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (nếu được thông qua) tiếp tục duy trì các tỷ lệ CDR (dư nợ cấp tín dụng trên huy động vốn) theo hướng tạo ra sự phân tách rõ hơn giữa các nguồn vốn và các khu vực thanh khoản, khả năng sử dụng tiền gửi Kho bạc như một nguồn lực để tái phân bổ và quay vòng trong hệ thống sẽ càng trở nên hạn chế.
Điều này có thể làm giảm khả năng hấp thụ và tái cân bằng thanh khoản của thị trường.
Mặc dù đã xuất hiện nhiều thông tin và kỳ vọng về những thay đổi tiếp theo, nhưng cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa đưa ra một bước điều chỉnh mới đủ rõ ràng.
Tỷ trọng vốn dài hạn gia tăng, ngân hàng chịu sức ép từ hai phía
Trong khi đó, các ngân hàng đang phải đối mặt với bài toán cân đối nguồn vốn ngày càng phức tạp. Mặt bằng lãi suất huy động cao đã tạo áp lực trực tiếp lên chi phí vốn, trong khi biên lãi ròng (NIM) tiếp tục chịu sức ép từ xu hướng giảm lãi suất cho vay. Điều này khiến khả năng hấp thụ chi phí vốn cao của hệ thống ngân hàng ngày càng hạn chế.
“Vấn đề còn trở nên đáng chú ý hơn khi xét đến sự thay đổi về kỳ hạn của nguồn vốn. Như chúng tôi đã phân tích trong bài viết trước, dòng tiền quay vòng trở lại hệ thống trong môi trường lãi suất cao không chỉ gia tăng về chi phí, mà còn có xu hướng dịch chuyển mạnh về phía kỳ hạn dài. Nói cách khác, ngay cả khi dòng tiền tiếp tục quay vòng trong hệ thống ngân hàng, nguồn vốn đó vẫn chủ yếu được duy trì ở các kỳ hạn dài hơn” - nhóm phân tích của VDSC nêu rõ.
![]() |
Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với chi phí vốn của ngân hàng. Khi tỷ trọng nguồn vốn dài hạn gia tăng, chi phí huy động (COF) thực tế có thể cao hơn đáng kể so với mức được phản ánh đơn thuần qua mặt bằng lãi suất huy động bình quân. Trong khi đó, NIM lại tiếp tục bị thu hẹp bởi áp lực giảm lãi suất cho vay.
Ngân hàng vì vậy đang chịu áp lực từ cả hai phía. Một mặt, phải huy động nguồn vốn với chi phí cao và kỳ hạn dài hơn. Mặt khác, lại phải đối mặt với yêu cầu duy trì hoặc giảm lãi suất cho vay. Đồng thời, áp lực phát hành chứng chỉ tiền gửi (CD) và trái phiếu tổ chức tín dụng (FiBond) tiếp tục kéo cấu trúc nguồn vốn về phía kỳ hạn dài.
“Hệ quả là nguồn tiền gửi ở kỳ hạn ngắn ngày càng trở nên quan trọng, nhưng nguồn cung này lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước - một nguồn vốn mà ngân hàng không thể chủ động kiểm soát” - nhóm phân tích của VDSC lưu ý./.
| Nhóm phân tích của VDSC cho rằng, vấn đề cần được xem xét trước mắt không nhất thiết là một biện pháp can thiệp mạnh vào mặt bằng lãi suất, mà là nới rộng hơn cơ chế tiếp cận và sử dụng nguồn tiền gửi Kho bạc trong hệ thống. “Cần xem xét khả năng cho phép tiền gửi Kho bạc được tính gần với bản chất của một nguồn tiền gửi thị trường 1 hơn trong các giới hạn cấu trúc liên quan. Điều này sẽ giúp giảm bớt sự phân tách nhân tạo giữa các nguồn vốn, đồng thời tạo điều kiện để nguồn tiền từ Kho bạc Nhà nước có thể được tái phân bổ hiệu quả hơn trong hệ thống ngân hàng” - VSDC đề xuất. Nếu cơ chế này tiếp tục bị giới hạn, trong khi nguồn vốn dài hạn ngày càng dư thừa tương đối so với nguồn vốn ngắn hạn ngày càng khan hiếm, áp lực thanh khoản sẽ không chỉ tồn tại ở kỳ hạn dài, mà có khả năng lan sang cả kỳ hạn ngắn. Vấn đề khi đó không còn đơn thuần là câu chuyện về mặt bằng lãi suất, mà trở thành vấn đề về cấu trúc và khả năng luân chuyển của nguồn vốn trong toàn hệ thống./. |




