Techcombank đạt hơn 5,8 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế quý III

(TBTCO) - Quý III/2023, Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 5,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý II; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 10,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với quý II; tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 33,6%, số dư CASA tăng 3,2% Q/Q và tăng 3,9% so với đầu năm; tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) tiếp tục duy trì vị thế hàng đầu, lần lượt đạt 15,0% và 2,4%...
aa

Gần 13 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ của Techcombank

Số liệu công bố về kết quả kinh doanh quý III của Techcombank cho biết, thu nhập từ hoạt động dịch vụ trong 9 tháng đầu năm tiếp tục tăng 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái, trên nền mức tăng rất cao tới 36,3% của 9 tháng đầu năm 2022. Riêng trong quý III, thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 12,9% so với cùng kỳ, lên mức 2,7 nghìn tỷ đồng.

Techcombank ghi nhận kết quả kinh doanh ổn định trong Quý III, theo sát dự báo chúng tôi đã chia sẻ trước đây, trong bối cảnh nền kinh tế đang cho thấy dấu hiệu phục hồi. Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh, thu hút 2,2 triệu khách hàng mới trong 9 tháng đầu năm. Thu nhập từ dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ bảo hiểm đạt mức tăng trưởng đáng kể trong quý III, qua đó giúp chúng tôi duy trì đà tăng trưởng thu nhập từ hoạt động dịch vụ (+13% N/N).

Số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng trưởng 2 quý liên tiếp, củng cố đà tăng CASA của Techcombank. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi cao hơn mức tăng toàn ngành trong 9 tháng năm 2023. Với kết quả đạt được trong Quý III/2023, Techcombank tin tưởng sẽ đạt mục tiêu lợi nhuận và chất lượng tài sản đã đề ra cho cả năm.

Ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank

Nguồn thu từ dịch vụ tăng trong bối cảnh Techcombank thu hút được lượng lớn khách hàng, tại thời điểm cuối quý III đã lên đến gần 13 triệu với khoảng 2,2 triệu khách hàng được thu hút mới trong 9 tháng đầu năm nay. Con số này nhiều gấp 3 lần so với số khách hàng mới thu hút được trong 9 tháng đầu năm 2022, trong đó 44,4% gia nhập qua các kênh kỹ thuật số và 42,9% thông qua hệ sinh thái của các đối tác.

Trong các mảng mang về nguồn thu lớn cho dịch vụ phải kể tới thu từ dịch vụ thẻ đạt 1.526 tỷ đồng, tăng 38,7% so với cùng kỳ; Thu từ thư tín dụng (LC), tiền mặt và thanh toán đạt 3.218 tỷ đồng, tăng 109,4% so với cùng kỳ; Thu phí dịch vụ ngoại hối (FX) đạt 731 tỷ đồng, tăng trưởng 19%.

Thu phí từ dịch vụ bảo hiểm có sự hồi phục mạnh mẽ ở quý 3, dù 9 tháng đầu năm vẫn giảm 57,1% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng doanh thu phí khai thác mới (APE) trong quý 3 đạt tới 32,1% so với quý trước, đồng thời giành lại vị trí số 1 thị trường về APE ròng.

Phí dịch vụ ngân hàng đầu tư 9 tháng qua cũng giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm ngoái nhưng cũng phục hồi mạnh trong quý 3 với khoản thu từ phí cao gấp đôi so với quý 2. TCBS tăng thị phần môi giới cổ phiếu trên HoSE từ 5,5% ở quý 2 lên 6,8% vào quý 3 đồng thời giữ vững vị trí thứ 4 về thị phần môi giới chứng khoán.

Ngoài ra, Techcombank ghi nhận 1,3 nghìn tỷ đồng thu nhập thuần từ các hoạt động khác, không bao gồm hoàn nhập dự phòng, so với 9,1 tỷ tại cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ thu nhập từ kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán đầu tư và khoản lãi thu được từ việc thanh lý trụ sở cũ tại Hà Nội vào quý I/2023.

Chi phí hoạt động của Techcombank trong 9 tháng đầu năm 2023 tăng 5,8% lên mức 9,6 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ CIR tăng lên mức 33,2%. Ngân hàng cho biết, riêng trong quý III, chi phí hoạt động tăng 24,7% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí khấu hao tài sản cố định khi Techcombank tiếp tục đầu tư vào số hóa và công nghệ đám mây. Cùng với đó, chi phí marketing tăng khi ngân hàng xúc tiến đẩy mạnh tiếp thị các thương hiệu dành riêng cho các phân khúc khách hàng khác nhau: Private, Priority và Inspire cũng như các hoạt động kỉ niệm 30 năm thành lập.

Chi phí dự phòng tăng 83,7% so với cùng kỳ năm trước, theo đúng dự báo của Techcombank. Chi phí tín dụng vẫn được kiểm soát tốt ở mức 0,7%.

Techcombank đạt hơn 5,8 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế quý III

CASA tăng quý thứ 2 liên tiếp

Về kết quả kinh doanh, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý III ở mức 5.843 tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý II dù giảm 13% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận của ngân hàng đạt 17.115 tỷ đồng, thấp hơn 17,8% so với cùng kỳ.

Trong 9 tháng đầu năm 2023, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt 20,1 nghìn tỷ đồng, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm ngoái xuống. Trong quý III/2023, mức độ giảm thu nhập lãi thuần chậm lại ở mức 3,9% từ mức khoảng 19% trong 2 quý trước. Chi phí vốn của Techcombank bắt đầu cho thấy sự ổn định, giảm xuống mức 4,7% trong quý 3, từ mức 5,4% trong quý II khi thanh khoản hệ thống tiếp tục được cải thiện.

Tổng tài sản của Techcombank đạt 781,3 nghìn tỷ đồng tại ngày 30/9/2023, tăng 11,8% so với đầu năm. Tính riêng ngân hàng, tín dụng tăng trưởng 11,4% so với đầu năm, đạt ngưỡng 495,4 nghìn tỷ đồng. Dư nợ tín dụng của Techcombank tăng trưởng lành mạnh, phù hợp với hạn mức tín dụng mới nhất được cấp bởi Ngân hàng Nhà nước.

Tiền gửi của khách hàng đạt 409 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với đầu năm và 7,1% so với quý trước. Số dư CASA tăng trong quý thứ 2 liên tiếp, đạt 137,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với quý 2, dẫn dắt bởi CASA bán lẻ (tăng 4,9% so với quý trước).

Mặt khác, tiền gửi có kỳ hạn tăng trở lại, đạt 271,5 nghìn tỷ đồng, ghi nhận tăng 9,2% so với quý trước và 20,1% so với đầu năm. Vì vậy, tỷ lệ CASA trong quý 3 đứng ở mức 33,6%. Điều này cho thấy trong bối cảnh môi trường lãi suất đã bình thường trở lại và thanh khoản hệ thống dồi dào hơn, khách hàng vẫn có xu hướng gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn vì các cơ hội đầu tư ở các loại tài sản hiện vẫn còn hạn chế.

Techcombank kiến tạo những chuẩn mực mới và riêng biệt cho khách hàng Private
Techcombank kiến tạo những chuẩn mực mới và riêng biệt cho khách hàng Private

Tỷ lệ an toàn vốn dẫn đầu, nợ xấu duy trì ở mức thấp 1,4%

Nền tảng vốn của Techcombank vẫn được quản trị chặt chẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) theo quy định là 76,7% tại ngày 30 tháng 9 năm 2023 (so với 80,4% tại ngày 30/6/2023). Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là 30,5% (so với 31,6% tại ngày 30/6/2023), thể hiện nỗ lực tiếp tục giảm tỷ lệ này xuống 30% sau ngày 1/10/2023 theo quy định.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Techcombank ở mức 15,0% vào ngày 30/9/2023, cao hơn nhiều so với mức yêu cầu tối thiểu 8,0% của trụ cột I, Basel II.

Chất lượng tài sản của Techcombank tiếp tục nằm trong tầm kiểm soát và phù hợp với dự báo quý III/2023 về sự hình thành nợ cần chú ý và nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của Techcombank ở mức 1,4%, trong nhóm thấp toàn ngành. Tính chung nợ vay và trái phiếu doanh nghiệp, tỉ lệ này ở mức 1,3%. Tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu giảm theo xu hướng chung của thị trường, về mức 93%, song đây vẫn là một trong những ngân hàng có tỷ lệ này thuộc nhóm top đầu./.

Thanh Lê

Đọc thêm

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

(TBTCO) - Quy mô mở rộng, lợi nhuận bứt phá và chi phí vận hành được tối ưu hóa tối đa là những dấu ấn đậm nét trong bức tranh kinh doanh quý I/2026 của KienlongBank. Với lợi nhuận tăng trưởng 50% cùng bộ chỉ số sinh lời khả quan, Ngân hàng đang tự tin bám sát lộ trình mục tiêu, khẳng định vị thế bền vững trên thị trường tài chính.
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

(TBTCO) - Trước diễn biến phức tạp của các dịch bệnh truyền nhiễm và nhu cầu di chuyển tăng cao dịp đại lễ, Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai chương trình ưu đãi lớn tặng voucher lên đến 25% từ ngày 25/4 đến 03/5/2026. Đây là giải pháp thiết thực giúp khách hàng thiết lập "lá chắn" tài chính vững chắc ngay trên ứng dụng bảo hiểm số.
PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

(TBTCO) - PTI trình cổ đông kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, đồng thời đề xuất phương án tăng vốn hơn 600 tỷ đồng nhằm củng cố nền tảng tài chính và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 17,000
Kim TT/AVPL 16,750 17,000
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 16,970
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 16,760
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 16,710
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 16,690
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 169,700
Hà Nội - PNJ 166,700 169,700
Đà Nẵng - PNJ 166,700 169,700
Miền Tây - PNJ 166,700 169,700
Tây Nguyên - PNJ 166,700 169,700
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 169,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 17,000
Miếng SJC Nghệ An 16,750 17,000
Miếng SJC Thái Bình 16,750 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 17,000
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 16,890
Trang sức 99.99 16,200 16,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 17,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 17,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 1,698
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 1,699
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 1,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 166,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 126,388
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 114,605
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 102,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 98,279
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 70,338
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cập nhật: 23/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19162
CAD 18739 19017 19635
CHF 33033 33419 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30284 30559 31584
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15244 15834
SGD 20125 20408 20936
THB 733 796 850
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26355
AUD 18484 18584 19507
CAD 18923 19023 20034
CHF 33282 33312 34890
CNY 3796.9 3821.9 3957.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30456 30486 32212
GBP 35065 35115 36873
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15347 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20285 20415 21137
THB 0 761.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80