Techcombank đạt hơn 5,8 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế quý III

(TBTCO) - Quý III/2023, Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 5,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý II; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 10,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với quý II; tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 33,6%, số dư CASA tăng 3,2% Q/Q và tăng 3,9% so với đầu năm; tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) tiếp tục duy trì vị thế hàng đầu, lần lượt đạt 15,0% và 2,4%...
aa

Gần 13 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ của Techcombank

Số liệu công bố về kết quả kinh doanh quý III của Techcombank cho biết, thu nhập từ hoạt động dịch vụ trong 9 tháng đầu năm tiếp tục tăng 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái, trên nền mức tăng rất cao tới 36,3% của 9 tháng đầu năm 2022. Riêng trong quý III, thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 12,9% so với cùng kỳ, lên mức 2,7 nghìn tỷ đồng.

Techcombank ghi nhận kết quả kinh doanh ổn định trong Quý III, theo sát dự báo chúng tôi đã chia sẻ trước đây, trong bối cảnh nền kinh tế đang cho thấy dấu hiệu phục hồi. Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh, thu hút 2,2 triệu khách hàng mới trong 9 tháng đầu năm. Thu nhập từ dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ bảo hiểm đạt mức tăng trưởng đáng kể trong quý III, qua đó giúp chúng tôi duy trì đà tăng trưởng thu nhập từ hoạt động dịch vụ (+13% N/N).

Số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng trưởng 2 quý liên tiếp, củng cố đà tăng CASA của Techcombank. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi cao hơn mức tăng toàn ngành trong 9 tháng năm 2023. Với kết quả đạt được trong Quý III/2023, Techcombank tin tưởng sẽ đạt mục tiêu lợi nhuận và chất lượng tài sản đã đề ra cho cả năm.

Ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank

Nguồn thu từ dịch vụ tăng trong bối cảnh Techcombank thu hút được lượng lớn khách hàng, tại thời điểm cuối quý III đã lên đến gần 13 triệu với khoảng 2,2 triệu khách hàng được thu hút mới trong 9 tháng đầu năm nay. Con số này nhiều gấp 3 lần so với số khách hàng mới thu hút được trong 9 tháng đầu năm 2022, trong đó 44,4% gia nhập qua các kênh kỹ thuật số và 42,9% thông qua hệ sinh thái của các đối tác.

Trong các mảng mang về nguồn thu lớn cho dịch vụ phải kể tới thu từ dịch vụ thẻ đạt 1.526 tỷ đồng, tăng 38,7% so với cùng kỳ; Thu từ thư tín dụng (LC), tiền mặt và thanh toán đạt 3.218 tỷ đồng, tăng 109,4% so với cùng kỳ; Thu phí dịch vụ ngoại hối (FX) đạt 731 tỷ đồng, tăng trưởng 19%.

Thu phí từ dịch vụ bảo hiểm có sự hồi phục mạnh mẽ ở quý 3, dù 9 tháng đầu năm vẫn giảm 57,1% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng doanh thu phí khai thác mới (APE) trong quý 3 đạt tới 32,1% so với quý trước, đồng thời giành lại vị trí số 1 thị trường về APE ròng.

Phí dịch vụ ngân hàng đầu tư 9 tháng qua cũng giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm ngoái nhưng cũng phục hồi mạnh trong quý 3 với khoản thu từ phí cao gấp đôi so với quý 2. TCBS tăng thị phần môi giới cổ phiếu trên HoSE từ 5,5% ở quý 2 lên 6,8% vào quý 3 đồng thời giữ vững vị trí thứ 4 về thị phần môi giới chứng khoán.

Ngoài ra, Techcombank ghi nhận 1,3 nghìn tỷ đồng thu nhập thuần từ các hoạt động khác, không bao gồm hoàn nhập dự phòng, so với 9,1 tỷ tại cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ thu nhập từ kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán đầu tư và khoản lãi thu được từ việc thanh lý trụ sở cũ tại Hà Nội vào quý I/2023.

Chi phí hoạt động của Techcombank trong 9 tháng đầu năm 2023 tăng 5,8% lên mức 9,6 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ CIR tăng lên mức 33,2%. Ngân hàng cho biết, riêng trong quý III, chi phí hoạt động tăng 24,7% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí khấu hao tài sản cố định khi Techcombank tiếp tục đầu tư vào số hóa và công nghệ đám mây. Cùng với đó, chi phí marketing tăng khi ngân hàng xúc tiến đẩy mạnh tiếp thị các thương hiệu dành riêng cho các phân khúc khách hàng khác nhau: Private, Priority và Inspire cũng như các hoạt động kỉ niệm 30 năm thành lập.

Chi phí dự phòng tăng 83,7% so với cùng kỳ năm trước, theo đúng dự báo của Techcombank. Chi phí tín dụng vẫn được kiểm soát tốt ở mức 0,7%.

Techcombank đạt hơn 5,8 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế quý III

CASA tăng quý thứ 2 liên tiếp

Về kết quả kinh doanh, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý III ở mức 5.843 tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý II dù giảm 13% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận của ngân hàng đạt 17.115 tỷ đồng, thấp hơn 17,8% so với cùng kỳ.

Trong 9 tháng đầu năm 2023, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt 20,1 nghìn tỷ đồng, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm ngoái xuống. Trong quý III/2023, mức độ giảm thu nhập lãi thuần chậm lại ở mức 3,9% từ mức khoảng 19% trong 2 quý trước. Chi phí vốn của Techcombank bắt đầu cho thấy sự ổn định, giảm xuống mức 4,7% trong quý 3, từ mức 5,4% trong quý II khi thanh khoản hệ thống tiếp tục được cải thiện.

Tổng tài sản của Techcombank đạt 781,3 nghìn tỷ đồng tại ngày 30/9/2023, tăng 11,8% so với đầu năm. Tính riêng ngân hàng, tín dụng tăng trưởng 11,4% so với đầu năm, đạt ngưỡng 495,4 nghìn tỷ đồng. Dư nợ tín dụng của Techcombank tăng trưởng lành mạnh, phù hợp với hạn mức tín dụng mới nhất được cấp bởi Ngân hàng Nhà nước.

Tiền gửi của khách hàng đạt 409 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với đầu năm và 7,1% so với quý trước. Số dư CASA tăng trong quý thứ 2 liên tiếp, đạt 137,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với quý 2, dẫn dắt bởi CASA bán lẻ (tăng 4,9% so với quý trước).

Mặt khác, tiền gửi có kỳ hạn tăng trở lại, đạt 271,5 nghìn tỷ đồng, ghi nhận tăng 9,2% so với quý trước và 20,1% so với đầu năm. Vì vậy, tỷ lệ CASA trong quý 3 đứng ở mức 33,6%. Điều này cho thấy trong bối cảnh môi trường lãi suất đã bình thường trở lại và thanh khoản hệ thống dồi dào hơn, khách hàng vẫn có xu hướng gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn vì các cơ hội đầu tư ở các loại tài sản hiện vẫn còn hạn chế.

Techcombank kiến tạo những chuẩn mực mới và riêng biệt cho khách hàng Private
Techcombank kiến tạo những chuẩn mực mới và riêng biệt cho khách hàng Private

Tỷ lệ an toàn vốn dẫn đầu, nợ xấu duy trì ở mức thấp 1,4%

Nền tảng vốn của Techcombank vẫn được quản trị chặt chẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) theo quy định là 76,7% tại ngày 30 tháng 9 năm 2023 (so với 80,4% tại ngày 30/6/2023). Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là 30,5% (so với 31,6% tại ngày 30/6/2023), thể hiện nỗ lực tiếp tục giảm tỷ lệ này xuống 30% sau ngày 1/10/2023 theo quy định.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Techcombank ở mức 15,0% vào ngày 30/9/2023, cao hơn nhiều so với mức yêu cầu tối thiểu 8,0% của trụ cột I, Basel II.

Chất lượng tài sản của Techcombank tiếp tục nằm trong tầm kiểm soát và phù hợp với dự báo quý III/2023 về sự hình thành nợ cần chú ý và nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của Techcombank ở mức 1,4%, trong nhóm thấp toàn ngành. Tính chung nợ vay và trái phiếu doanh nghiệp, tỉ lệ này ở mức 1,3%. Tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu giảm theo xu hướng chung của thị trường, về mức 93%, song đây vẫn là một trong những ngân hàng có tỷ lệ này thuộc nhóm top đầu./.

Thanh Lê

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,008 26,058 26,380
USD20 25,958 26,058 26,809
USD1 25,908 26,058 26,859
AUD 18,289 18,389 19,494
EUR 29,643 29,743 31,399
CAD 18,468 18,568 19,880
SGD 20,182 20,332 20,886
JPY 160.9 162.4 167.93
GBP 34,798 34,948 36,023
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80