Techcombank kiên định và tự tin với mục tiêu kinh doanh bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TCMP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vừa tổ chức thành công Đại hội đồng Cổ đông năm 2023 (ĐHĐCĐ). Đại hội đồng Cổ đông đã thông qua các nghị quyết, bao gồm kế hoạch kinh doanh năm 2023, kế hoạch góp vốn mua cổ phiếu phát hành riêng lẻ của Công ty CP Chứng khoán Kỹ thương (TCBS).
aa

Chất lượng tài sản dẫn đầu ngành ngân hàng

Bất chấp những khó khăn, thách thức mang lại trong năm 2022, Techcombank vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực, được củng cố bởi chiến lược khách hàng là trọng tâm, tăng cường hơn nữa thấu hiểu khách hàng và cung cấp cho họ các giải pháp được cá nhân hóa chuyên sâu.

Không chỉ vậy, Techcombank tiếp tục đồng hành cùng người dân trên hành trình “Nâng tầm giá trị sống” thông qua các giải marathon tổ chức tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nhằm khuyến khích lối sống lành manh. Ngân hàng cũng tích cực tham gia và dẫn dắt các hoạt động cộng đồng và phát triển xã hội, với các khoản hỗ trợ trị giá gần 80 tỷ đồng.

Techcombank kiên định và tự tin với mục tiêu kinh doanh bền vững
Đại hội đồng Cổ đông năm 2023 của Techcombank đã đồng thuận cao với mục tiêu kinh doanh bền vững, gia tăng vị thế dẫn đầu trong chuyển đổi số.

Năm 2022 chứng kiến bước tiến dài trong hành trình chuyển đổi số của Techcombank khi các nền tảng tiên tiến nhất trên công nghệ điện toán đám mây bắt đầu tạo ra lợi thế cạnh tranh khi đi vào hoạt động. Cùng với đó, việc triển khai đầu tư mạnh mẽ vào 3 trụ cột chuyển đổi số hóa, dữ liệu và nhân tài đã giúp Techcombank đạt được những kết quả ấn tượng trong năm tài chính.

Nối tiếp tốc độ tăng trưởng kép tổng thu nhập 25,8% trong giai đoạn 2016-2021, Techcombank ghi nhận 40,9 nghìn tỷ đồng tổng thu nhập hoạt động, tăng 10,3% so với 2021. Ngân hàng cũng ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước

Nối tiếp tốc độ tăng trưởng kép tổng thu nhập 25,8% trong giai đoạn 2016 - 2021, Techcombank ghi nhận 40,9 nghìn tỷ đồng tổng thu nhập hoạt động, tăng 10,3% so với 2021.

Ngân hàng cũng ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập lãi thuần và thu nhập từ phí tăng trưởng tích cực, bù đắp những khó khăn ở hoạt động kinh doanh mua bán chứng khoán hay ngoại hối (do lợi suất trái phiếu Chính phủ và chi phí hoán đổi tăng cao) và dịch vụ ngân hàng đầu tư bị ảnh hưởng bởi những diễn biến không thuận lợi trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu.

Tại thời điểm 31/12/2022, Tổng tài sản của Techcombank đạt 699,0 nghìn tỷ đồng, tăng 22,9% so với cuối năm 2021. Danh mục tín dụng tiếp tục được chuyển dịch từ cho vay doanh nghiệp lớn sang cho vay cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ theo đúng mục tiêu chiến lược của Techcombank, qua đó giúp giảm thiểu rủi ro danh mục và tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Trong điều kiện thị trường có nhiều biến động, Techcombank vẫn ghi nhận tỷ lệ an toàn vốn (CAR) 15,2%, tỷ lệ nợ xấu (NPL) 0,7%, và tỷ lệ bao phủ nợ xấu là 157,3%, qua đó phản ánh chiến lược quản lý rủi ro thận trọng và chất lượng tài sản dẫn đầu ngành ngân hàng.

Tin tưởng với triển vọng tích cực của năm 2023

Năm 2023, Techcombank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 22 nghìn tỷ đồng, giảm 14% so với 2022. Tín dụng1 của Ngân hàng được dự kiến tăng 15,0% lên 511,3 nghìn tỷ đồng hoặc cao hơn, trong mức quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Các cổ đông của Techcombank đồng thuận cao với kế hoạch giữ lại toàn bộ lợi nhuận để đầu tư vào số hóa, dữ liệu và nhân tài, tập trung tăng tốc các sáng kiến chiến lược, xây dựng động lực tăng trưởng bền vững như đã đề ra trong chiến lược 2021 - 2025.

Mặc dù vẫn tồn tại một số bất ổn toàn cầu có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế và ngành Ngân hàng trong năm 2023, Ban lãnh đạo Techcombank tin tưởng vào tiềm năng tăng trưởng hấp dẫn của Việt Nam trong trung và dài hạn, đồng thời tự tin vào những năng lực cốt lõi, đặc biệt xây dựng trên nền tảng Dữ liệu - Số hóa - Nhân tài của Techcombank nhằm đón đầu những cơ hội này.

Năm 2023, Techcombank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 22 nghìn tỷ đồng, giảm 14% so với 2022. Tín dụng1 của ngân hàng được dự kiến tăng 15,0% lên 511,3 nghìn tỷ đồng hoặc cao hơn, trong mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tiền gửi của khách hàng sẽ tăng trưởng phù hợp với tín dụng thực tế khi ngân hàng tiếp tục phát huy thế mạnh từ việc tối ưu hóa việc quản lý tài sản nợ - có (ALM). Techcombank ước tính kiểm soát và duy trì nợ xấu 2 dưới 1,5%./.

Thu Trang

Đọc thêm

BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%

BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%

Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%; quyết liệt triển khai các phương án tăng vốn điều lệ, cải thiện CAR. Ngân hàng dự kiến giữ lại toàn bộ 13.205 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025 để chia cổ tức bằng cổ phiếu. Cùng với các kế hoạch tăng vốn còn dang dở từ năm 2023, nếu hoàn tất, vốn điều lệ BIDV có thể vượt mốc 100.000 tỷ đồng.
Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/4 đảo chiều giảm từ 200.000 đồng - 700.000 đồng, đưa giá giao dịch về ngưỡng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

(TBTCO) - Sáng ngày 20/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần 25.103 đồng, tăng 1 đồng so với trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.610 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,2% phản ánh USD mạnh lên so với các đồng tiền chủ chốt. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh giá dầu bật tăng mạnh khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, xung đột khu vực kéo dài sang tuần thứ 8 và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt rõ ràng.
Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

(TBTCO) - Từ kết quả thống kê của cơ quan thuế cho thấy, đa phần hộ kinh doanh đã và đang dần thích nghi với quy định mới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý đó là ở một số lĩnh vực, người bán có xu hướng ưu tiên nhận tiền mặt, thậm chí từ chối hoặc hạn chế nhận thanh toán bằng chuyển khoản. Vậy “tiền mặt có quay trở lại”, theo chuyên gia, câu trả lời là cần nhìn sâu vào dữ liệu và cấu trúc của dòng tiền trong nền kinh tế.
SHB hợp tác chiến lược với Huawei

SHB hợp tác chiến lược với Huawei

(TBTCO) - Ngày 19/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Tập đoàn Công nghệ Huawei chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hành trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện của SHB, đồng thời khẳng định vai trò chủ động, tiên phong của Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Trước “giờ G” của những thay đổi về chính sách, nhiều hộ kinh doanh không khỏi lo lắng: làm sao kịp thời tuân thủ quy định, trong khi vẫn duy trì và mở rộng kinh doanh. Thấu hiểu những trăn trở này từ quá trình đồng hành lâu dài cùng hộ kinh doanh, ACB đã triển khai gói ưu đãi đặc biệt trị giá 30 triệu đồng - không chỉ giúp hộ kinh doanh vận hành đúng, đủ theo quy định, mà còn mở ra thêm cơ hội tăng trưởng và mở rộng thị trường trong giai đoạn mới.
VietABank lãi quý I/2026 tăng vọt 44% nhờ thu ngoài lãi khởi sắc

VietABank lãi quý I/2026 tăng vọt 44% nhờ thu ngoài lãi khởi sắc

(TBTCO) - VietABank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng mạnh 44,1% lên 508,5 tỷ đồng, hoàn thành gần 35% kế hoạch năm. Động lực đến từ tăng trưởng tín dụng ổn định và nguồn thu ngoài lãi cải thiện. Đặc biệt, chi phí dự phòng giảm sâu 86,7% so với cùng kỳ, trở thành “đòn bẩy” chính giúp lợi nhuận bứt phá.
Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 15 - 20% lên khoảng 40.000 tỷ đồng, gia cố vị thế “big 5” lợi nhuận; duy trì tăng trưởng tín dụng khoảng 35%. Lãnh đạo MB nhấn mạnh, ngân hàng tận dụng cơ hội nhận chuyển giao MBV để bứt tốc trong 3 năm tới, đồng thời dự kiến tăng vốn điều lệ lên 102.687 tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,830 17,130
Kim TT/AVPL 16,830 17,130
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,830 17,130
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,450 16,850
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,380 16,830
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 171,000
Hà Nội - PNJ 168,000 171,000
Đà Nẵng - PNJ 168,000 171,000
Miền Tây - PNJ 168,000 171,000
Tây Nguyên - PNJ 168,000 171,000
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 171,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,830 17,130
Miếng SJC Nghệ An 16,830 17,130
Miếng SJC Thái Bình 16,830 17,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 17,100
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,290 16,990
Trang sức 99.99 16,300 17,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,683 17,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,683 17,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 1,708
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 1,709
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 1,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 167,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 127,138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 115,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 103,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 98,862
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 70,755
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 1,713
Cập nhật: 21/04/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18306 18581 19156
CAD 18700 18978 19592
CHF 33048 33434 34074
CNY 0 3800 3870
EUR 30343 30617 31644
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3232 3434
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15174 15759
SGD 20165 20448 20974
THB 736 799 852
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26156 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,526 30,550 31,810
JPY 161.63 161.92 170.66
GBP 34,996 35,091 36,092
AUD 18,528 18,595 19,185
CAD 18,919 18,980 19,559
CHF 33,328 33,432 34,203
SGD 20,330 20,393 21,061
CNY - 3,798 3,919
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.49 17.2 18.6
THB 784.57 794.26 844.63
NZD 15,157 15,298 15,659
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,085 4,203
NOK - 2,765 2,849
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.13 - 6,997.35
TWD 756.89 - 911.29
SAR - 6,921.35 7,245.21
KWD - 83,906 88,726
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,380 30,502 31,685
GBP 34,902 35,042 36,051
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,048 33,181 34,122
JPY 161.72 162.37 169.69
AUD 18,475 18,549 19,143
SGD 20,333 20,415 20,999
THB 802 805 841
CAD 18,870 18,946 19,520
NZD 15,227 15,760
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26218 26218 26358
AUD 18495 18595 19520
CAD 18884 18984 19998
CHF 33293 33323 34902
CNY 3802.2 3827.2 3962.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30528 30558 32284
GBP 35081 35131 36889
HKD 0 3355 0
JPY 162.2 162.7 173.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15283 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20324 20454 21187
THB 0 765.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16830000 16830000 17130000
SBJ 15000000 15000000 17130000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,211 26,358
USD20 26,161 26,211 26,358
USD1 26,161 26,211 26,358
AUD 18,535 18,635 19,741
EUR 30,660 30,660 32,071
CAD 18,825 18,925 20,230
SGD 20,394 20,544 21,108
JPY 162.76 164.26 169.5
GBP 34,955 35,305 36,169
XAU 16,828,000 0 17,132,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 801 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/04/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80