BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%

Ánh Tuyết
Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%; quyết liệt triển khai các phương án tăng vốn điều lệ, cải thiện CAR. Ngân hàng dự kiến giữ lại toàn bộ 13.205 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025 để chia cổ tức bằng cổ phiếu. Cùng với các kế hoạch tăng vốn còn dang dở từ năm 2023, nếu hoàn tất, vốn điều lệ BIDV có thể vượt mốc 100.000 tỷ đồng.
aa

BIDV lãi 23.600 tỷ đồng, trở thành ngân hàng đầu tiên có tổng tài sản vượt 3 triệu tỷ đồng

Ba "ông lớn" quốc doanh chọn ngày 24/4 họp Đại hội đồng cổ đông, bàn chuyện tăng vốn
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Phấn đấu tăng trưởng 5 - 10% tổng tài sản

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - Mã: BID) vừa công bố tài liệu Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026, dự kiến tổ chức ngày 24/4. Đại hội sẽ xem xét và thông qua nhiều nội dung trọng tâm như kế hoạch kinh doanh, phương án tăng vốn và phân phối lợi nhuận...

Theo báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị năm 2025 và trọng tâm hoạt động năm 2026, BIDV đặt ra mục tiêu trở thành Tập đoàn Tài chính - Ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu khu vực Đông Nam Á; đồng thời, giữ vững vai trò, vị thế chủ lực, chủ đạo dẫn dắt thị trường.

Theo kế hoạch, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10% trong năm 2026; dư nợ tín dụng điều hành theo hạn mức được cấp, còn lợi nhuận trước thuế thực hiện theo phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng cũng duy trì tỷ lệ nợ xấu không vượt 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn theo quy định.

Trong 6 định hướng hoạt động và trọng tâm công tác năm 2026, Hội đồng quản trị BIDV đặc biệt nhấn mạnh việc quyết liệt triển khai các phương án tăng vốn điều lệ, vốn tự có nhằm nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR).

Cùng với đó, gia tăng huy động vốn ngay từ đầu năm, tập trung cải thiện tỷ lệ huy động vốn không kỳ hạn hiệu quả, bền vững.

Thực hiện tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đẩy mạnh thu hồi và xử lý nợ xấu, nợ tiềm ẩn, nợ hạch toán ngoại bảng.

BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%
Nguồn: BIDV.

Giữ lại 13.200 tỷ đồng năm 2025 chia cổ tức cổ phiếu, kế hoạch nhiều năm "dở dang"

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, BIDV ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 28.445 tỷ đồng, sau điều chỉnh do thay đổi lợi nhuận năm trước, nâng lên 28.459 tỷ đồng.

Ngân hàng dự kiến trích lập các quỹ tổng cộng 15.179 tỷ đồng, gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển và quỹ khen thưởng phúc lợi. Phần lợi nhuận còn lại sau trích lập và chênh lệch đánh giá ngoại tệ đạt khoảng 13.205 tỷ đồng và được đề xuất sử dụng toàn bộ để chia cổ tức bằng cổ phiếu theo phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.

Đại hội đồng cổ đông BIDV
Nguồn: BIDV.

Thông tin về kết quả thực hiện phương án phân phối lợi nhuận các năm trước đó 2023, 2024, báo cáo Hội đồng quản trị BIDV nêu rõ, đối với phương án chi trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận năm 2023, BIDV đã có công văn báo cáo Ngân hàng Nhà nước về phương án tăng vốn từ lợi nhuận để lại năm 2023, với giá trị vốn đề xuất tăng thêm là 13.972 tỷ đồng.

Tính đến cuối năm 2025, vốn điều lệ của BIDV là 70.213,6 tỷ đồng. Gần nhất, ngày 15/1/2026, Hội đồng quản trị BIDV đã phê duyệt phát hành 264 triệu cổ phiếu riêng lẻ cho 33 nhà đầu tư chuyên nghiệp, uy tín trong và ngoài nước như: SCIC, Dragon Capital, KIM, SSIAM…, với tổng số tiền thu về là 10.272 tỷ đồng.

Nếu hoàn tất toàn bộ các phương án đã trình, bao gồm cả kế hoạch chia cổ tức năm 2025, vốn điều lệ của BIDV dự kiến vượt 100.000 tỷ đồng, qua đó, gia nhập top ngân hàng có quy mô vốn top đầu.

Trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản đề nghị Người đại diện phần vốn nhà nước tại BIDV rà soát, hoàn thiện hồ sơ, đảm bảo việc phê duyệt phương án đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại BIDV được thực hiện đúng quy định pháp luật.

"Hiện BIDV tiến hành chi trả cổ tức bằng cổ phiếu thông qua triển khai các bước trong quy trình thủ tục tăng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại năm 2023 theo quy định, dự kiến hoàn thành trong năm 2026" - lãnh đạo BIDV nêu rõ.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, đối với lợi nhuận còn lại chưa phân phối của năm 2024, BIDV đang xin ý kiến của Ngân hàng Nhà nước để triển khai các thủ tục liên quan để chi trả cổ tức từ phần lợi nhuận còn lại theo phương án phân phối lợi nhuận chính thức được phê duyệt.

Trước đó, năm 2025, BIDV tiếp tục khẳng định vị thế ngân hàng có quy mô hoạt động lớn nhất Việt Nam nhiều năm liên tiếp với tổng tài sản đạt trên 3,26 triệu tỷ đồng, tăng 20,5% so với năm 2024, đứng đầu thị trường và là ngân hàng đầu tiên vượt mốc 3 triệu tỷ đồng.

Dư nợ tín dụng đạt 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 15,2% so với năm 2024, tuân thủ giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, chiếm 12,5% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế, tiếp tục đứng đầu thị trường về thị phần.

Nguồn vốn huy động (gồm tiền gửi khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, các khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác, vốn tài trợ, ủy thác đầu tư cho vay mà tổ chức tín dụng chịu rủi ro) đạt 3,05 triệu tỷ đồng. Trong đó, huy động vốn tổ chức kinh tế, dân cư đạt 2,4 triệu tỷ đồng, tăng 13,7%, phù hợp với bối cảnh chung của thị trường và đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo an toàn thanh khoản và gia tăng hiệu quả.

Lợi nhuận trước thuế khối ngân hàng thương mại đạt 35.509 tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm 2024, vượt 11% so với kế hoạch Ngân hàng Nhà nước và ĐHĐCĐ giao. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 37.788 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2024; trích dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định./.

Về các chỉ tiêu an toàn tính đến cuối năm 2025, theo BIDV, tỷ lệ nợ xấu theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN kiểm soát ở mức 1,26%, đảm bảo theo đúng mục tiêu định hướng của Ngân hàng Nhà nước (≤1,6%). Cuối năm 2025, BIDV ghi nhận tổng quy mô nợ nhóm 3 - 5 đạt khoảng 34.977 tỷ đồng, tập trung nợ nhóm 5 và tăng hơn 20% cùng kỳ.

Cùng với đó, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 19%; hệ số an toàn vốn (CAR) riêng lẻ ở mức 9,05%; tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của khối ngân hàng thương mại đạt 81,81%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/4 đảo chiều giảm từ 200.000 đồng - 700.000 đồng, đưa giá giao dịch về ngưỡng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng.
Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

(TBTCO) - Từ kết quả thống kê của cơ quan thuế cho thấy, đa phần hộ kinh doanh đã và đang dần thích nghi với quy định mới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý đó là ở một số lĩnh vực, người bán có xu hướng ưu tiên nhận tiền mặt, thậm chí từ chối hoặc hạn chế nhận thanh toán bằng chuyển khoản. Vậy “tiền mặt có quay trở lại”, theo chuyên gia, câu trả lời là cần nhìn sâu vào dữ liệu và cấu trúc của dòng tiền trong nền kinh tế.
SHB hợp tác chiến lược với Huawei

SHB hợp tác chiến lược với Huawei

(TBTCO) - Ngày 19/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Tập đoàn Công nghệ Huawei chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hành trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện của SHB, đồng thời khẳng định vai trò chủ động, tiên phong của Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

ACB tung gói ưu đãi khủng 30 triệu đồng cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Trước “giờ G” của những thay đổi về chính sách, nhiều hộ kinh doanh không khỏi lo lắng: làm sao kịp thời tuân thủ quy định, trong khi vẫn duy trì và mở rộng kinh doanh. Thấu hiểu những trăn trở này từ quá trình đồng hành lâu dài cùng hộ kinh doanh, ACB đã triển khai gói ưu đãi đặc biệt trị giá 30 triệu đồng - không chỉ giúp hộ kinh doanh vận hành đúng, đủ theo quy định, mà còn mở ra thêm cơ hội tăng trưởng và mở rộng thị trường trong giai đoạn mới.
Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông MB: "Nước rút" 3 năm bứt tốc, tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 15 - 20% lên khoảng 40.000 tỷ đồng, gia cố vị thế “big 5” lợi nhuận; duy trì tăng trưởng tín dụng khoảng 35%. Lãnh đạo MB nhấn mạnh, ngân hàng tận dụng cơ hội nhận chuyển giao MBV để bứt tốc trong 3 năm tới, đồng thời dự kiến tăng vốn điều lệ lên 102.687 tỷ đồng.
Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

Khi huy động vốn không còn là câu chuyện số lượng

(TBTCO) - Khi nhu cầu vốn gia tăng, bài toán không còn nằm ở quy mô huy động mà chuyển sang hiệu quả sử dụng và phân bổ, đòi hỏi tái cấu trúc các kênh dẫn vốn cho tăng trưởng bền vững.
Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (18/4): Tỷ giá USD tự do rớt 200 đồng tuần qua, DXY lùi nhẹ giữ trên 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 18/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.102 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi tỷ giá USD tự do đứng yên quanh 26.600 - 26.630 VND/USD sau khi giảm mạnh 200 đồng tuần qua. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY chốt tuần ở 98,21 điểm, tăng nhẹ phiên cuối, nhưng giảm 0,45% cả tuần, phản ánh USD dao động trong biên độ hẹp khi dòng tiền toàn cầu liên tục đảo chiều trước biến động địa chính trị và kỳ vọng chính sách.
Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Giá vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 18/4: Vàng trong nước tăng lên vùng 168,5 - 172 triệu đồng/lượng Sáng ngày 18/4, giá vàng trong nước đảo chiều tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 800.000 - 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 172 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,830 ▼20K 17,130 ▼70K
Kim TT/AVPL 16,830 ▼20K 17,130 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,830 ▼20K 17,130 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▼100K 15,850 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▼100K 15,800 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,500 ▼50K 16,900 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,450 ▼50K 16,850 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,380 ▼50K 16,830 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼500K 171,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 16,830 ▼70K 17,130 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼50K 17,100 ▼50K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,290 ▼50K 16,990 ▼50K
Trang sức 99.99 16,300 ▼50K 17,000 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,683 ▼2K 17,132 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,683 ▼2K 17,133 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▲1510K 1,708 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▲1510K 1,709 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▲1492K 1,693 ▲1523K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼693K 167,624 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼525K 127,138 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼476K 115,286 ▼476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▲85037K 103,433 ▲93047K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▲80925K 98,862 ▲88935K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼292K 70,755 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,683 ▼2K 1,713 ▲1541K
Cập nhật: 20/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18306 18581 19156
CAD 18700 18978 19592
CHF 33048 33434 34074
CNY 0 3800 3870
EUR 30343 30617 31644
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3232 3434
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15174 15759
SGD 20165 20448 20974
THB 736 799 852
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26156 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,526 30,550 31,810
JPY 161.63 161.92 170.66
GBP 34,996 35,091 36,092
AUD 18,528 18,595 19,185
CAD 18,919 18,980 19,559
CHF 33,328 33,432 34,203
SGD 20,330 20,393 21,061
CNY - 3,798 3,919
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.49 17.2 18.6
THB 784.57 794.26 844.63
NZD 15,157 15,298 15,659
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,085 4,203
NOK - 2,765 2,849
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.13 - 6,997.35
TWD 756.89 - 911.29
SAR - 6,921.35 7,245.21
KWD - 83,906 88,726
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,380 30,502 31,685
GBP 34,902 35,042 36,051
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,048 33,181 34,122
JPY 161.72 162.37 169.69
AUD 18,475 18,549 19,143
SGD 20,333 20,415 20,999
THB 802 805 841
CAD 18,870 18,946 19,520
NZD 15,227 15,760
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26218 26218 26358
AUD 18495 18595 19520
CAD 18884 18984 19998
CHF 33293 33323 34902
CNY 3802.2 3827.2 3962.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30528 30558 32284
GBP 35081 35131 36889
HKD 0 3355 0
JPY 162.2 162.7 173.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15283 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20324 20454 21187
THB 0 765.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16830000 16830000 17130000
SBJ 15000000 15000000 17130000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,211 26,358
USD20 26,161 26,211 26,358
USD1 26,161 26,211 26,358
AUD 18,535 18,635 19,741
EUR 30,660 30,660 32,071
CAD 18,825 18,925 20,230
SGD 20,394 20,544 21,108
JPY 162.76 164.26 169.5
GBP 34,955 35,305 36,169
XAU 16,828,000 0 17,132,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 801 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80