Thanh tra đề nghị Sacombank Nam Định khắc phục vi phạm về huy động và cho vay

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định vừa ban hành Kết luận thanh tra số 07/KL-TTGS đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Việt Nam chi nhánh Nam Định (Sacombank Nam Định). Kết luận của cơ quan thanh tra chỉ rõ nhiều vi phạm, hạn chế trong công tác huy động vốn và cho vay.
aa
Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào? "Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng Nhiều khoản thu nhập ngoài lãi tăng đột biến, ngân hàng nào được điểm tên?

Nội dung thanh tra về việc chấp hành các quy định về huy động vốn và lãi suất huy động vốn; thanh tra hoạt động cấp tín dụng; phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro; cơ cấu thời hạn trả nợ; miễn giảm lãi, phí; tình hình xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro.

Theo kết luận thanh tra, về hoạt động huy động vốn, các chính sách, quy định nội bộ của Sacombank về hoạt động huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân ban hành đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Thanh tra đề nghị Sacombank Nam Định khắc phục vi phạm về huy động và cho vay
Thanh tra đề nghị Sacombank Nam Định khắc phục vi phạm về huy động và cho vay. Ảnh tư liệu.

Tài liệu chứng minh khả năng tài chính trả nợ không đảm bảo

Về hoạt động cấp tín dụng, Chánh Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh tỉnh Nam Định cho biết, chi nhánh còn một số tồn tại về thẩm định cho vay, hồ sơ cho vay, về kiểm tra, giám sát vốn vay, về bảo đảm tiền vay và sai khác. Về xử lý rủi ro, tài liệu chứng minh khả năng tài chính trả nợ không đảm bảo theo Điều 9 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.

Tuy nhiên, theo cơ quan thanh tra, Sacombank Nam Định còn thiếu thông tin về địa chỉ, số điện thoại của khách hàng trên một số hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn. Trong thời gian thanh tra, chi nhánh đã bổ sung đầy đủ các thông tin của khách hàng.

Chỉ rõ nguyên nhân tồn tại trong công tác huy động vốn, cơ quan thanh tra cho rằng, do chi nhánh triển khai thực hiện và áp dụng các quy định còn có những thiếu sót. Bên cạnh đó, kế toán, giao dịch viên chưa cẩn trọng trong quá trình tác nghiệp.

Về tồn tại trong công tác cấp tín dụng, theo cơ quan thanh tra, nguyên nhân khách quan do khách hàng không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng cho vay; chưa cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến quá trình vay vốn. Bên cạnh đó, khách hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh sau dịch Covid-19 nên không trả gốc, lãi tiền vay đúng thời hạn trong hợp đồng cho vay.

"Nguyên nhân chủ quan do cán bộ thực hiện thẩm định và quyết định cho vay chưa chặt chẽ, kiểm soát phê duyệt khoản vay chưa kiểm soát tính đầy đủ, tính chính xác và hợp lý của hồ sơ cho vay và tài liệu chứng minh sử dụng vốn vay do khách hàng cung cấp; chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về kiểm tra, giám sát sau vay” - Chánh Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh tỉnh Nam Định chỉ rõ.

Chánh Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh tỉnh Nam Định yêu cầu Sacombank Nam Định thực hiện 11 kiến nghị, trong đó 3 kiến nghị đối với công tác huy động vốn; 7 kiến nghị về công tác cho vay, 1 kiến nghị khác để khắc phục các vi phạm, hạn chế và giảm thiểu rủi ro phát sinh, nâng cao chất lượng, hiệu quả an toàn trong hoạt động./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 140,200
Hà Nội - PNJ 136,200 140,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 140,200
Miền Tây - PNJ 136,200 140,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 140,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 140,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 13,960
Trang sức 99.99 13,370 13,970
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Cập nhật: 05/08/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Cập nhật: 05/08/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80