Nhiều khoản thu nhập ngoài lãi tăng đột biến, ngân hàng nào được điểm tên?

Ánh Tuyết
Bóc tách động lực chính giúp lợi nhuận ngành ngân hàng bật tăng hai chữ số quý IV/2024, VDSC cho biết, thu nhập lãi thuần vẫn là động lực tăng trưởng chính. Tuy nhiên, mức tăng trưởng vượt trội đến từ thu hồi nợ xấu, cùng mua bán chứng khoán đầu tư và kinh doanh, lần lượt tăng 66% và 67% cùng kỳ.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào? Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Trong báo cáo toàn cảnh kết quả kinh doanh ngành ngân hàng mới phát hành, Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, lợi nhuận trước thuế quý IV/2024 của 27 ngân hàng niêm yết đạt 81 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 22% so với cùng kỳ, đưa lợi nhuận trước thuế 2024 đạt 299 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 18%.

Động lực giúp tăng trưởng lợi nhuận

Bóc tách động lực chính giúp lợi nhuận ngành ngân hàng bật tăng, theo VDSC, trong quý IV/2024, thu nhập lãi thuần vẫn là động lực tăng trưởng chính cho tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế, với điểm nhấn về tăng trưởng tín dụng ước đạt gần 18%, mức cao nhất kể từ năm 2018.

Cùng với đó, các nguồn thu nhập ngoài lãi quý IV/2024 tăng trưởng mạnh, 32% so với cùng kỳ, chủ yếu được dẫn dắt bởi thu nhập từ thu hồi nợ xấu (tăng 66% so với cùng kỳ) và thu nhập từ mua bán chứng khoán đầu tư và kinh doanh (chủ yếu là trái phiếu Chính phủ) với mức tăng 67% so với cùng kỳ.

Nhiều khoản thu nhập ngoài lãi tăng đột biến, ngân hàng nào được điểm tên?

Các khoản thu nhập tăng trưởng vượt trội

"Trong đó, thu nhập từ thu hồi nợ xấu có sự tăng trưởng tích cực trên diện rộng và đột biến ở số ít ngân hàng như: VPBank, Vietcombank, BIDV, VietinBank. Tăng trưởng của thu nhập từ kinh doanh chứng khoán được đóng góp chủ yếu ở BIDV và MB" - VDSC chỉ rõ.

Ngược lại, tăng trưởng của thu nhập từ phí dịch vụ vẫn tương đối yếu, giảm 13% so với cùng kỳ, vốn bị ảnh hưởng bởi thị trường banca chưa phục hồi và sự dịch chuyển của nguồn thu nhập từ UPAS L/C sang thu nhập lãi.

Theo nhóm phân tích, thu nhập khác có sự tăng trưởng vượt trội nhờ thu nhập từ thu hồi nợ xấu (đã xử lý rủi ro), đạt gần 15 nghìn tỷ đồng và tăng trưởng 66% so với cùng kỳ; chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đi ngang so với cùng kỳ là hai điểm nhấn đáng chú ý khác trong bức tranh kết quả kinh doanh cũng như củng cố cho diễn biến cải thiện của chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong quý IV/2024.

Về diễn biến của NIM (biên lãi ròng), trong quý IV/2024, NIM mặc dù giảm 20 điểm cơ bản (đcb) so với cùng kỳ 2023, nhưng cải thiện nhẹ 10 đcb so với quý III nhờ lợi suất tài sản tăng thêm 15 đcb, trong khi chi phí vốn đi ngang so với quý trước.

Theo nhóm phân tích, diễn biến mở rộng của NIM so với quý trước có sự hỗ trợ của việc hoàn nhập thu nhập lãi đã thoái sau khi chất lượng tài sản có sự cải thiện đáng kể trong quý IV/2024. Lũy kế cả năm, NIM cuối năm 2024 của các ngân hàng niêm yết giảm 10 đcb so với cùng kỳ xuống 3,3% với đà giảm chậm lại so với năm 2023 (-40 đcb so với cùng kỳ).

Tối ưu chi phí hoạt động, CIR giảm nhiều năm liên tiếp

Về chi phí hoạt động, theo VDSC, chi phí hoạt động quý IV/2024 và 2024 lần lượt tăng trưởng 19% so với cùng kỳ và 11% so với cùng kỳ và CIR (tỷ lệ chi phí trên thu nhập) toàn ngành trong 2024 đạt 33,5%, cải thiện khoảng 80 đcb so với năm 2023.

"Trong khi tỷ trọng chi phí cho nhân viên có xu hướng giảm qua các năm, các ngân hàng tiếp tục gia tăng tỷ trọng chi phí hoạt động khác, trong đó chủ yếu là chi cho các hoạt động quản lý, công vụ, bao gồm các khoản chi về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ và chi cho các sáng kiến cải tiến, tăng năng suất lao động" - nhóm phân tích VDSC nhìn nhận.

Theo VDSC, các ngân hàng tiếp tục ưu tiên cho các hoạt động đầu tư chuyển đổi số nhằm tăng tính cạnh tranh cũng như nâng cao năng suất hoạt động, phần nào được thể hiện qua xu hướng giảm của tỷ lệ CIR từ 2019 tới nay.

Về chi phí trích lập dự phòng và chất lượng tài sản, chất lượng tài sản có sự chuyển biến tích cực trong quý IV/2024 với quy mô nợ xấu (NPL), tỷ lệ NPL và nợ xấu hình thành ròng (trước xử lý rủi ro) đều giảm so với quý trước.

Đáng chú ý, quy mô nợ xấu hình thành ròng đã giảm về mức thấp nhất kể từ quý I/2022, thời điểm trước khi nợ xấu bắt đầu chu kỳ tăng mạnh trước những ảnh hưởng tiêu cực từ yếu tố vĩ mô và thị trường bất động sản.

Nhiều khoản thu nhập ngoài lãi tăng đột biến, ngân hàng nào được điểm tên?
Quy mô nợ xấu hình thành ròng đã giảm về mức thấp nhất kể từ quý I/2022. Ảnh minh hoạ.

Trong quý IV/2024, một số ngân hàng đáng chú ý ghi nhận nợ xấu giảm ròng (trước xử lý rủi ro), do nợ xấu nội bảng chuyển về các nhóm nợ tốt hơn, bao gồm: VietinBank, MB, Techcombank, TPBank, Nam A Bank.

Theo VDSC, xu hướng nợ xấu hình thành ròng giảm được hỗ trợ bởi khả năng trả nợ của các khách hàng đã khả quan hơn trong quý IV/2024, thể hiện một phần qua số dư lãi, phí phải thu, số ngày phải thu lãi bình quân giảm đáng kể so với quý trước. Diễn biến này có thể tiếp tục củng cố cho chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong 2025.

Mặc dù nợ xấu mới đã giảm, các ngân hàng duy trì tỷ lệ chi phí tín dụng không thay đổi so với quý trước, giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu cải thiện nhẹ lên 91% từ 83% trong quý III.

Sau diễn biến kết quả kinh doanh quý IV/2024 với nhiều gam màu tích cực, VDSC ước tính ngành ngân hàng đang được giao dịch ở mức P/B 1,5 lần, so với bình quân lịch sử 5 năm là 1,7 lần.

Mức định giá ngành hiện nay là tương đối hấp dẫn khi xét đến xu hướng cải thiện chất lượng tài sản có nhiều khả năng tiếp diễn, đi kèm với khả năng ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) tăng trở lại khi tăng trưởng lợi nhuận được dự báo tích cực hơn trong 2025, kết hợp với chất xúc tác nâng hạng thị trường đối với các cổ phiếu vốn hóa lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 140,200
Hà Nội - PNJ 136,200 140,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 140,200
Miền Tây - PNJ 136,200 140,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 140,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 140,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 13,960
Trang sức 99.99 13,370 13,970
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405
Cập nhật: 05/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Cập nhật: 05/08/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80