Thị trường tiền tệ "nín thở" chờ thông tin cán cân thương mại và FDI tháng 10

Chí Tín
(TBTCO) - Tháng 10 sắp khép lại và giới tài chính đang dõi theo các thông tin cập nhật về tình hình xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vì các dữ liệu này kỳ vọng có thể là yếu tố quan trọng có thể hỗ trợ ổn định tỷ giá, đặc biệt sau gần 1 tháng diễn biến đồng USD “nổi sóng”.
aa
Thị trường tiền tệ
Sáng ngày 29/10, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 24.252 đồng/USD. Ảnh tư liệu

Tốc độ bán tín phiếu đã chậm lại

Sau khi kích hoạt đợt bán tín phiếu trên thị trường mở bắt đầu từ hôm 18/10, tốc độ bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong một số phiên gần đây đã giảm đáng kể. Trong các phiên từ 24 - 25/10, NHNN bán ra mỗi phiên chỉ từ 3,25 nghìn tỷ đồng đến 4,5 nghìn tỷ đồng tín phiếu; riêng trong phiên ngày 28/10, NHNN chỉ bán ra 800 tỷ đồng tín phiếu. Lượng tín phiếu bán ra theo đó đã giảm đáng kể so với các phiên đầu trong đợt bán tín phiếu lần này, cụ thể như trong phiên ngày 18/10, NHNN bán ra 12,3 nghìn tỷ đồng tín phiếu; phiên ngày 21/10 bán ra 21,65 nghìn tỷ đồng tín phiếu; phiên ngày 22/10 bán ra 12,45 nghìn tỷ đồng tín phiếu…

Động thái bán tín phiếu của NHNN diễn ra sau một chu kỳ tỷ giá có tín hiệu tăng khá mạnh kể từ đầu tháng 10. Tỷ giá trung tâm từ 1/10 đến 18/10 tăng từ 24.081 đồng/USD lên 24.213 đồng/USD (tăng 0,55%); tỷ giá bán ra tại Vietcombank trong giai đoạn này cũng tăng từ 24.770 đồng/USD lên 25.340 đồng/USD (tăng 2,3%).

Sau khi NHNN thực hiện bán tín phiếu từ hôm 18/10, tỷ giá giữa đồng Việt Nam so với USD vẫn tiếp tục có thêm vài ngày tăng và lập đỉnh vào hôm 24/10, sau đó có một chút điều chỉnh giảm nhẹ từ đó đến nay. Sáng ngày 29/10, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 24.252 đồng/USD, giảm được 8 đồng/USD so với hôm 24/10; tỷ giá bán ra tại Vietcombank 25.494 đồng/USD, giảm 9 đồng/USD so với hôm 24/10.

Các yếu tố trong ngoài đan xen

Diễn biến tỷ giá trong nước nóng lên trong tháng 10 chịu tác động bởi cả các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài. Yếu tố bên ngoài có thể thấy rõ nhất là diễn biến tăng rất mạnh của đồng USD trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD đã tăng một mạch từ mức chỉ hơn 100 điểm hồi cuối tháng 9 lên mức trên 104 điểm hiện nay.

Với yếu tố bên trong, đầu tháng 10 Tổng cục Thống kê công bố tình hình xuất nhập khẩu cho thấy trạng thái cán cân thương mại tuy vẫn xuất siêu, nhưng có tín hiệu về sụt giảm khá mạnh. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9/2024 đạt 34,05 tỷ USD, giảm 9,9% so với tháng trước; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2024 sơ bộ đạt 31,76 tỷ USD, giảm 5,9% so với tháng trước. Cán cân thương mại hàng hóa tháng 9 tuy vẫn xuất siêu 2,29 tỷ USD, giảm chỉ còn hơn nửa so với con số xuất siêu 4,53 tỷ USD trong tháng 8.

Điều đáng chú ý là số liệu về cán cân tổng thể về thanh toán quốc tế được NHNN tổng hợp cho thấy, nền kinh tế thâm hụt 6,066 tỷ USD trong quý II/2024. Ông Nguyễn Việt Đức, Giám đốc kinh doanh số, Công ty chứng khoán VPBank cho biết, nhìn cụ thể cán cân thanh toán tổng, các hạng mục như cán cân thương mại và FDI dù cho thấy vẫn có tín hiệu tốt, nhưng cả hai hạng mục này thực chất không tốt hơn hẳn so với năm ngoái. Trong khi đó một số hạng mục khác (như vay trả nợ, đầu tư gián tiếp, “lỗi và sai sót”…) bị thâm hụt, vì vậy các biện pháp cần thực thi để bình ổn trạng thái ngoại tệ đòi hỏi sự mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Hồi hộp chờ số liệu tháng 10

Còn vài ngày nữa sẽ đến thời điểm Tổng cục Thống kê công bố chính thức số liệu kinh tế - xã hội tháng 10 và số liệu lần này được giới tài chính ngóng chờ với tâm trạng khá hồi hộp. Lý do là, diễn biến xuất nhập khẩu và tình hình giải ngân vốn FDI vẫn được coi là “điểm tựa” khá quan trọng cho nền kinh tế ở góc độ cân đối cung cầu ngoại tệ trong giai đoạn hiện tại.

Về tình hình giải ngân vốn FDI, số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tháng 9 vừa qua được ghi nhận là “điểm sáng” thu hút FDI với gần 3,2 tỷ USD vốn FDI thực hiện trong tháng, tăng gần gấp đôi so với tháng 9. Trong đó, con số vốn FDI thực hiện trong tháng 9 cũng ghi nhận mức cao nhất trong 9 tháng năm 2024. Theo đó, đà tăng tốc của vốn FDI trong tháng 9 có thể tiếp tục duy trì trong tháng 10 và các tháng tiếp theo hay không sẽ được giới tài chính dõi theo từng bước.

Trong khi đó, tình hình xuất nhập khẩu đang cho thấy tín hiệu không thực sự quá lạc quan. Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho biết, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 10/2024 (từ ngày 1/10 đến ngày 15/10/2024) đạt 31,93 tỷ USD, giảm 12,4% (tương ứng giảm 4,53 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 9/2024. Tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 10/2024 đạt 15,78 tỷ USD, giảm 5,8% (tương ứng giảm 968 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 9/2024. Với số liệu này, trạng thái xuất siêu của nửa đầu tháng 10 chỉ còn vẻn vẹn 0,37 tỷ USD.

Trong bối cảnh hiện nay, một số chuyên gia cũng đang đặt kỳ vọng về sức phục hồi của các thị trường tiêu thụ trên thế giới có thể sẽ là động lực hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam cho một chu kỳ xa hơn, có thể theo quý hoặc năm. Ông Đinh Quang Hinh, Trưởng bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect cho biết, môi trường tín dụng toàn cầu nới lỏng, cùng với thu nhập thực tế được cải thiện (nhờ lạm phát giảm), sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển. IMF mới cập nhật dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ và toàn cầu trong năm 2025 lần lượt là 2,2% và 3,2%. “Tăng trưởng toàn cầu ổn định sẽ là yếu tố hỗ trợ cho triển vọng hoạt động xuất khẩu và lĩnh vực sản xuất của Việt Nam trong năm tới”, ông Hinh nói.

Thị trường tiền tệ
Kim ngạch xuất nhập khẩu có thể tăng 10% trong năm 2025

Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể tăng trưởng khả quan ở mức 9 - 10% trong năm 2025. Ngoài ra, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh trong 9 tháng sẽ góp phần cải thiện hơn nữa hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong năm 2025. Ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, VNDirect

Chí Tín

Đọc thêm

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 10/4, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp với Sở Công thương Cần Thơ tổ chức chương trình “LPBank Connect - Kết nối địa phương, đồng hành cùng doanh nghiệp”, hướng tới tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 12/04/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/04/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80