Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/6: Lãi suất liên ngân hàng sát mốc 3%, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua (2 - 6/6) ghi nhận lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, tiệm cận mốc 3%, bất chấp nhà điều hành không bơm vốn qua OMO hai phiên và hút ròng hơn 15.000 tỷ đồng. Cùng thời điểm, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục, vượt mốc 25.000 VND/USD. Những diễn biến trái chiều cho thấy chính sách tiền tệ đang đối mặt bài toán khó.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Ngày 6/6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng, xuống còn 24.992 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng 23.742 - 26.242 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh giảm, xuống mức 23.793 - 26.191 VND/USD.

Tỷ giá USD hạ nhiệt sau chuỗi tăng

Sau chuỗi tăng liên tiếp, tỷ giá USD tại các ngân hàng sáng 6/6 đồng loạt điều chỉnh giảm. Giá mua vào giảm tới 33 đồng tại nhiều ngân hàng. Đơn cử, chốt phiên 6/6, Vietcombank niêm yết ở mức 25.830 - 26.220 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 24 đồng ở cả hai chiều so với hôm qua. BIDV giao dịch ở mức 25.881 - 26.241 VND/USD, tăng 17 đồng chiều mua và giảm 13 đồng chiều bán.

Tính chung tuần qua từ ngày 2 - 6/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố gây nhiều bất ngờ cho thị trường khi tăng mạnh 34 đồng hai phiên liên tiếp giữa tuần, đưa tỷ giá trung tâm vượt mốc 25.000 đồng, cao nhất trong lịch sử (25.004 VND/USD). So với cuối tuần trước, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 14 đồng, lên 24.992 VND/USD.

Diễn biến tiền tệ tuần qua cho thấy
Diễn biến tỷ giá USD/VND tuần qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá tự do giảm, ngược chiều ngân hàng và tỷ giá trung tâm

Ngược chiều với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm và tại các ngân hàng thương mại, trên thị trường tự do, tỷ giá USD chốt tuần ở mức 26.225 - 26.325 VND/USD, biến động tuần qua dao động trong biên độ hẹp. Trong tuần qua, duy nhất phiên 4/6, tỷ giá USD "chợ đen" bán ra tăng 10 đồng; còn lại 2 phiên không đổi và hai phiên giảm. So với cuối tuần trước, tỷ giá tự do bán ra giảm 35 đồng, thể hiện xu hướng giảm áp lực tỷ giá trong khu vực phi chính thức.

Tỷ giá bán ra USD tại các ngân hàng thương mại cũng ghi nhận nhiều biến động. Sau khi đi ngang đầu tuần tại mức 26.200 VND/USD (ngày 2/6), tỷ giá tăng hai phiên và lên mức 26.254 đồng ngày 4/6, sau đó giảm hai phiên cuối tuần. Tính chung cả tuần, tỷ giá bán ra USD của ngân hàng thương mại tăng 20 đồng so với cuối tuần trước.

Còn tỷ giá EUR tại Vietcombank ngày 6/6 được ghi nhận ở mức 28.963,74 - 30.550,67 VND/EUR, tăng mạnh 215 đồng chiều mua và 227 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. Tỷ giá EUR tại BIDV niêm yết ở mức 29.331 - 30.605 VND/EUR, cũng tăng mạnh 282 chiều mua và 297 đồng chiều bán. Đây là mức tăng đáng kể, phản ánh diễn biến tăng mạnh của đồng euro trên thị trường quốc tế.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tăng 0,03%, lên 99,04 điểm. Sức ép giảm giá tiếp tục đè nặng lên đồng USD do lo ngại về tăng trưởng kinh tế Mỹ, chính sách tiền tệ và căng thẳng thương mại.

Trong khi đó, đồng EUR tăng lên mức 1,1495 USD, tiến sát đỉnh hơn 3 năm là 1,1573 USD từng thiết lập vào ngày 20/4, sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) phát tín hiệu kết thúc chu kỳ nới lỏng chính sách kéo dài suốt 1 năm sau khi thực hiện đợt cắt giảm lãi suất thứ 8. Các dữ liệu yếu kém về thị trường lao động Mỹ tiếp tục tạo áp lực lên đồng bạc xanh.

Ngoài ra, tâm lý thận trọng vẫn bao trùm giới đầu tư khi các cuộc đàm phán thương mại của Mỹ chưa đạt được tiến triển rõ rệt, trong khi thời hạn giải quyết một số thỏa thuận quan trọng đang đến gần vào đầu tháng 7.

Tỷ giá nóng, Ngân hàng Nhà nước không bơm vốn OMO hai phiên trong tuần

Việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp thông qua các biện pháp liên tục hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện các mục tiêu của Chính phủ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể tạo áp lực lên tỷ giá USD/VND, đặc biệt trong bối cảnh các chính sách dưới thời Tổng thống Donald Trump vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn và rủi ro đối với thị trường tài chính.

Chính sách tiền tệ đối mặt thế khó

"Về lý thuyết, hạ lãi suất nhưng tỷ giá cũng chịu áp lực. Chúng ta cũng không muốn VND mất giá quá nhiều, sẽ bị quy vào dùng tỷ giá để kích thích xuất khẩu. Đây là bài toán rất khó của Việt Nam hiện nay", ông Hải nhìn nhận.

Chia sẻ gần đây, ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc Ngân hàng OCB nhận định, trong dài hạn, vị thế của đồng USD có thể suy yếu.

Trong bối cảnh toàn cầu nhiều bất ổn, ngày càng có nhiều quốc gia tham gia thương mại quốc tế tìm cách đa dạng hóa đồng tiền thanh toán nhằm giảm sự phụ thuộc vào USD. Đây được xem là cơ hội lớn cho các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo OCB, NHNN hiện đang đứng trước bài toán điều hành đầy thách thức, vừa phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa cần hỗ trợ tăng trưởng. Ông Hải kỳ vọng Chính phủ sẽ có những bước đi hiệu quả trong đàm phán thương mại với Mỹ, kết hợp với nền tảng chính trị ổn định, định hướng cải cách rõ ràng và môi trường vĩ mô thuận lợi, từ đó tạo ra nhiều cơ hội phát triển mới cho Việt Nam trong thời gian tới.

Cùng chung quan điểm, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động hiện nay vẫn được kiểm soát. Tuy nhiên, chính sách duy trì lãi suất thấp cũng tiềm ẩn rủi ro. Trong bối cảnh hiện tại, áp lực tỷ giá là không nhỏ. Trong khi đồng USD có dấu hiệu suy yếu trên thị trường quốc tế, VND vẫn tiếp tục mất giá so với đồng USD, phản ánh tình trạng suy yếu kép với các đồng tiền mạnh khác.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/6: Lãi suất liên ngân hàng sát mốc 3%, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục
Ảnh TL minh hoạ

Điểm đáng chú ý, tại thị trường mở (OMO), phiên ngày 6/6, NHNN không chào thầu tín phiếu; không bơm vốn qua kênh OMO, trong khi lượng đáo hạn là 2.593,09 tỷ đồng, tương ứng hút ròng 2.593,09 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở. Chỉ còn 34.932,45 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Trong tuần đầu tháng 6/2025, dù có lượng lớn OMO đáo hạn 21.360,22 tỷ đồng, NHNN không tái bơm tiền vào hệ thống qua thị trường mở hai phiên trong tuần, đó là vào ngày 6/6 và trước đó là ngày 4/6 - phiên tỷ giá trung tâm và tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng nóng. Tính chung tuần qua, NHNN chỉ cung ứng thanh khoản 6.330,62 tỷ đồng cho thị trường thông qua kênh OMO, tương ứng hút ròng 15.029,6 tỷ đồng.

Ngày 5/6, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Lãi suất qua đêm giảm còn 3,06%, giảm 4 điểm cơ bản so với cuối tuần trước. Kỳ hạn 1 tuần giảm mạnh xuống 3,41%, thấp hơn điểm cơ bản; trong khi kỳ hạn 2 tuần cũng hạ xuống 3,59%, giảm 23 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm còn 3,98%, mất 19 điểm cơ bản. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ lên 4,55%, cao hơn 8 điểm cơ bản so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80