Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/6: Lãi suất liên ngân hàng sát mốc 3%, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua (2 - 6/6) ghi nhận lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, tiệm cận mốc 3%, bất chấp nhà điều hành không bơm vốn qua OMO hai phiên và hút ròng hơn 15.000 tỷ đồng. Cùng thời điểm, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục, vượt mốc 25.000 VND/USD. Những diễn biến trái chiều cho thấy chính sách tiền tệ đang đối mặt bài toán khó.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Ngày 6/6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng, xuống còn 24.992 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng 23.742 - 26.242 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh giảm, xuống mức 23.793 - 26.191 VND/USD.

Tỷ giá USD hạ nhiệt sau chuỗi tăng

Sau chuỗi tăng liên tiếp, tỷ giá USD tại các ngân hàng sáng 6/6 đồng loạt điều chỉnh giảm. Giá mua vào giảm tới 33 đồng tại nhiều ngân hàng. Đơn cử, chốt phiên 6/6, Vietcombank niêm yết ở mức 25.830 - 26.220 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 24 đồng ở cả hai chiều so với hôm qua. BIDV giao dịch ở mức 25.881 - 26.241 VND/USD, tăng 17 đồng chiều mua và giảm 13 đồng chiều bán.

Tính chung tuần qua từ ngày 2 - 6/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố gây nhiều bất ngờ cho thị trường khi tăng mạnh 34 đồng hai phiên liên tiếp giữa tuần, đưa tỷ giá trung tâm vượt mốc 25.000 đồng, cao nhất trong lịch sử (25.004 VND/USD). So với cuối tuần trước, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 14 đồng, lên 24.992 VND/USD.

Diễn biến tiền tệ tuần qua cho thấy
Diễn biến tỷ giá USD/VND tuần qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá tự do giảm, ngược chiều ngân hàng và tỷ giá trung tâm

Ngược chiều với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm và tại các ngân hàng thương mại, trên thị trường tự do, tỷ giá USD chốt tuần ở mức 26.225 - 26.325 VND/USD, biến động tuần qua dao động trong biên độ hẹp. Trong tuần qua, duy nhất phiên 4/6, tỷ giá USD "chợ đen" bán ra tăng 10 đồng; còn lại 2 phiên không đổi và hai phiên giảm. So với cuối tuần trước, tỷ giá tự do bán ra giảm 35 đồng, thể hiện xu hướng giảm áp lực tỷ giá trong khu vực phi chính thức.

Tỷ giá bán ra USD tại các ngân hàng thương mại cũng ghi nhận nhiều biến động. Sau khi đi ngang đầu tuần tại mức 26.200 VND/USD (ngày 2/6), tỷ giá tăng hai phiên và lên mức 26.254 đồng ngày 4/6, sau đó giảm hai phiên cuối tuần. Tính chung cả tuần, tỷ giá bán ra USD của ngân hàng thương mại tăng 20 đồng so với cuối tuần trước.

Còn tỷ giá EUR tại Vietcombank ngày 6/6 được ghi nhận ở mức 28.963,74 - 30.550,67 VND/EUR, tăng mạnh 215 đồng chiều mua và 227 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. Tỷ giá EUR tại BIDV niêm yết ở mức 29.331 - 30.605 VND/EUR, cũng tăng mạnh 282 chiều mua và 297 đồng chiều bán. Đây là mức tăng đáng kể, phản ánh diễn biến tăng mạnh của đồng euro trên thị trường quốc tế.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tăng 0,03%, lên 99,04 điểm. Sức ép giảm giá tiếp tục đè nặng lên đồng USD do lo ngại về tăng trưởng kinh tế Mỹ, chính sách tiền tệ và căng thẳng thương mại.

Trong khi đó, đồng EUR tăng lên mức 1,1495 USD, tiến sát đỉnh hơn 3 năm là 1,1573 USD từng thiết lập vào ngày 20/4, sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) phát tín hiệu kết thúc chu kỳ nới lỏng chính sách kéo dài suốt 1 năm sau khi thực hiện đợt cắt giảm lãi suất thứ 8. Các dữ liệu yếu kém về thị trường lao động Mỹ tiếp tục tạo áp lực lên đồng bạc xanh.

Ngoài ra, tâm lý thận trọng vẫn bao trùm giới đầu tư khi các cuộc đàm phán thương mại của Mỹ chưa đạt được tiến triển rõ rệt, trong khi thời hạn giải quyết một số thỏa thuận quan trọng đang đến gần vào đầu tháng 7.

Tỷ giá nóng, Ngân hàng Nhà nước không bơm vốn OMO hai phiên trong tuần

Việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp thông qua các biện pháp liên tục hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện các mục tiêu của Chính phủ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể tạo áp lực lên tỷ giá USD/VND, đặc biệt trong bối cảnh các chính sách dưới thời Tổng thống Donald Trump vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn và rủi ro đối với thị trường tài chính.

Chính sách tiền tệ đối mặt thế khó

"Về lý thuyết, hạ lãi suất nhưng tỷ giá cũng chịu áp lực. Chúng ta cũng không muốn VND mất giá quá nhiều, sẽ bị quy vào dùng tỷ giá để kích thích xuất khẩu. Đây là bài toán rất khó của Việt Nam hiện nay", ông Hải nhìn nhận.

Chia sẻ gần đây, ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc Ngân hàng OCB nhận định, trong dài hạn, vị thế của đồng USD có thể suy yếu.

Trong bối cảnh toàn cầu nhiều bất ổn, ngày càng có nhiều quốc gia tham gia thương mại quốc tế tìm cách đa dạng hóa đồng tiền thanh toán nhằm giảm sự phụ thuộc vào USD. Đây được xem là cơ hội lớn cho các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo OCB, NHNN hiện đang đứng trước bài toán điều hành đầy thách thức, vừa phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa cần hỗ trợ tăng trưởng. Ông Hải kỳ vọng Chính phủ sẽ có những bước đi hiệu quả trong đàm phán thương mại với Mỹ, kết hợp với nền tảng chính trị ổn định, định hướng cải cách rõ ràng và môi trường vĩ mô thuận lợi, từ đó tạo ra nhiều cơ hội phát triển mới cho Việt Nam trong thời gian tới.

Cùng chung quan điểm, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động hiện nay vẫn được kiểm soát. Tuy nhiên, chính sách duy trì lãi suất thấp cũng tiềm ẩn rủi ro. Trong bối cảnh hiện tại, áp lực tỷ giá là không nhỏ. Trong khi đồng USD có dấu hiệu suy yếu trên thị trường quốc tế, VND vẫn tiếp tục mất giá so với đồng USD, phản ánh tình trạng suy yếu kép với các đồng tiền mạnh khác.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/6: Lãi suất liên ngân hàng sát mốc 3%, tỷ giá trung tâm cao kỷ lục
Ảnh TL minh hoạ

Điểm đáng chú ý, tại thị trường mở (OMO), phiên ngày 6/6, NHNN không chào thầu tín phiếu; không bơm vốn qua kênh OMO, trong khi lượng đáo hạn là 2.593,09 tỷ đồng, tương ứng hút ròng 2.593,09 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở. Chỉ còn 34.932,45 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Trong tuần đầu tháng 6/2025, dù có lượng lớn OMO đáo hạn 21.360,22 tỷ đồng, NHNN không tái bơm tiền vào hệ thống qua thị trường mở hai phiên trong tuần, đó là vào ngày 6/6 và trước đó là ngày 4/6 - phiên tỷ giá trung tâm và tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng nóng. Tính chung tuần qua, NHNN chỉ cung ứng thanh khoản 6.330,62 tỷ đồng cho thị trường thông qua kênh OMO, tương ứng hút ròng 15.029,6 tỷ đồng.

Ngày 5/6, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Lãi suất qua đêm giảm còn 3,06%, giảm 4 điểm cơ bản so với cuối tuần trước. Kỳ hạn 1 tuần giảm mạnh xuống 3,41%, thấp hơn điểm cơ bản; trong khi kỳ hạn 2 tuần cũng hạ xuống 3,59%, giảm 23 điểm cơ bản. Kỳ hạn 1 tháng giảm còn 3,98%, mất 19 điểm cơ bản. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ lên 4,55%, cao hơn 8 điểm cơ bản so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30