Thị trường vàng lộ diện nhiều bất cập, "vàng tặc" lẩn khuất sau lớp vỏ vàng miếng

Ánh Tuyết
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng sau 13 năm thực thi bộc lộ nhiều bất cập. Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ, có hiện tượng một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng lợi dụng chức năng kinh doanh vàng để kinh doanh trái phép, hợp thức hoá vàng lậu/vàng tặc, trốn thuế; hay phụ thuộc vào Công ty SJC gây khó trong chủ động nguồn cung...
aa
Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng Giá vàng hôm nay (16/6): Neo ở mốc cao và dự báo đà tăng chưa dừng

Trong báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định số 24), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, hạn chế khi triển khai Nghị định số 24 sau 13 năm thực thi.

"Lỗ hổng" từ buôn lậu, đầu cơ đến độc quyền sản xuất

Theo NHNN, bên cạnh đa số các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật, thời gian qua đã có hiện tượng một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng lợi dụng chức năng kinh doanh vàng để kinh doanh trái phép, hợp thức hoá vàng lậu/vàng tặc, trốn thuế, tung tin thất thiệt gây ảnh hưởng tâm lý của người dân về giá vàng và ngoại tệ để đầu cơ trục lợi.

Cùng với đó, giá vàng miếng chênh lệch cao so với giá quốc tế tại nhiều thời điểm, đặc biệt trong giai đoạn từ cuối năm 2021 đến nay, giá vàng thế giới tăng mạnh. Tính đến cuối năm 2024, giá vàng thế giới tăng 26% so với cuối năm 2023. Trong các tháng đầu năm 2025, giá vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh, có thời điểm tiến sát mốc 3.500 USD/ounce.

Thị trường vàng lộ diện nhiều bất cập,
Từ năm 2014 - 2023, NHNN không cung thêm vàng miếng ra thị trường. Ảnh tư liệu.

Việc giá vàng thế giới liên tục tăng cao cùng những khó khăn của các kênh đầu tư trong nước, thói quen lâu đời của người dân trong việc dùng vàng để đảm bảo an toàn tài sản khiến nhu cầu mua vàng của người dân tăng. Mặt khác, không loại trừ tâm lý đám đông đổ xô đi mua vàng khiến nhu cầu vàng miếng SJC tăng đột biến.

Hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới vẫn diễn ra, tác động đến tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do, gây áp lực lên thị trường ngoại tệ và tỷ giá chính thức, từ đó ảnh hưởng bất lợi tới việc điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát, cũng như ổn định kinh tế vĩ mô; gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.

Vàng trang sức "giả dạng" vàng miếng

"Qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện nhiều trường hợp mua vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc để sản xuất các sản phẩm vàng trang sức mỹ nghệ hàm lượng 99,99%, có tính chất tương tự như vàng miếng, có giá tương đương vàng miếng. Hiện tượng này xảy ra trong bối cảnh giá vàng thế giới tăng liên tục, chênh lệch giá vàng miếng SJC và giá vàng thế giới ở mức cao" - NHNN chỉ rõ bất cập.

Bên cạnh đó, cách thức độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất vàng miếng bộc lộ hạn chế.

"Việc tiếp tục phụ thuộc vào Công ty SJC trong khi hiện nay công nghệ, thiết bị đã lỗi thời, gây khó khăn cho NHNN trong việc chủ động nguồn cung vàng miếng SJC trong trường hợp cần phải can thiệp với khối lượng lớn" - NHNN chỉ rõ.

NHNN sẽ tiếp tục phải sử dụng ngoại tệ từ dự trữ ngoại hối nhà nước để nhập khẩu vàng nhằm can thiệp, bình ổn thị trường nếu vẫn giữ cơ chế hiện nay.

Đáng chý ý, tồn tại các sản phẩm vàng trang sức mỹ nghệ (hàm lượng 99,99%) có tính chất dùng để đầu tư, tích lũy tương tự như vàng miếng do Nghị định 24 chưa có quy định phân biệt rõ ràng giữa khái niệm về vàng miếng và vàng trang sức mỹ nghệ.

Từ khi Nghị định 24 được ban hành, các doanh nghiệp không được sản xuất vàng miếng. Trên thị trường, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm vàng trang sức mỹ nghệ có tính chất đầu tư, tích lũy tương tự với vàng miếng; trong đó có những sản phẩm như: Âu Vàng Phúc Long, Kim Giáp... của công ty DOJI có giá ngang bằng với giá vàng miếng SJC và được đổi sang vàng miếng SJC.

"Vàng hóa" bị đẩy lùi, nhưng nhiều rủi ro đang lộ diện

Trước đó, kể từ năm 2008 - 2012, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, lạm phát gia tăng và nhu cầu nắm giữ vàng trong nền kinh tế tăng. Do giá vàng thế giới biến động tăng mạnh, cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng giai đoạn này đã không còn phù hợp.

Hàng loạt hệ quả xảy ra như: “vàng hóa” trong nền kinh tế cao; vàng miếng được mua, bán rộng rãi tại 12.000 doanh nghiệp, 8 đơn vị được sản xuất vàng miếng, việc cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu khối lượng lớn, tiêu tốn ngoại tệ trong khi dự trữ ngoại hối giảm xuống mức thấp kỷ lục. Điều này đặt ra nhu cầu thay đổi cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng cho phù hợp hơn.

Thị trường vàng lộ diện nhiều bất cập,
Thị trường vàng lộ diện nhiều bất cập, vàng tặc lẩn khuất sau lớp vỏ vàng miếng. Ảnh: T.L.
Sau 13 năm triển khai các giải pháp quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24, các mục tiêu của Nghị định đã đạt được. Theo NHNN, hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng được kiểm soát chặt chẽ. Người dân, doanh nghiệp chỉ được mua, bán vàng miếng tại những địa điểm được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Vàng miếng gần như không còn được sử dụng là phương tiện thanh toán và đo lường giá trị.

Sau nhiều năm triển khai Nghị định số 24, các tổ chức tín dụng không còn được huy động và cho vay vốn bằng vàng, nhờ đó giảm phương tiện thanh toán bằng vàng trong lưu thông, góp phần ổn định thị trường ngoại hối, loại bỏ rủi ro về vàng trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Với thói quen nắm giữ vàng lâu đời, đồng thời pháp luật bảo vệ quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân thì chức năng tích trữ giá trị của vàng vẫn luôn tồn tại. Cùng với đó, quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước đã tăng đáng kể so với trước Nghị định 24.

Sau 13 năm triển khai các giải pháp quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24, thị trường vàng tương đối ổn định. Tuy nhiên, từ năm 2019 trở lại đây, do ảnh hưởng bởi các yếu tố quốc tế và trong nước như đại dịch Covid-19, leo thang căng thẳng địa chính trị cuộc chiến thương mại, thuế quan của các nền kinh tế lớn trên thế giới… dẫn đến giá vàng quốc tế và trong nước tăng mạnh.

Thị trường vàng trong nước bắt đầu bộc lộ một số hạn chế về cơ chế quản lý sản xuất vàng miếng, cơ chế cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ, do đó, chênh lệch giá vàng miếng trong nước và giá thế giới tăng cao, có thời điểm chênh lệch cao nhất lên 18 triệu đồng/lượng.

Song song với đó là nguy cơ buôn lậu vàng qua biên giới, tác động đến tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do. Việc tiếp tục phụ thuộc vào một đơn vị gia công, sản xuất vàng miếng không còn phù hợp trong khi năng lực, công nghệ, kỹ thuật của đơn vị này đã lỗi thời...

Việc rà soát, tổng kết tình hình thực hiện Nghị định 24 để đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định quản lý hoạt động kinh doanh vàng phù hợp với điều kiện hiện nay đang được NHNN lấy ý kiến rộng rãi các đơn vị./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲70K 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲70K 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲70K 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 14,622
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 14,623
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 143,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 98,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 88,365
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 60,454
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cập nhật: 26/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17587 17860 18435
CAD 18003 18278 18895
CHF 31864 32245 32895
CNY 0 3827 3919
EUR 29284 29504 30582
GBP 33918 34308 35239
HKD 0 3224 3426
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14524 15112
SGD 19753 20035 20612
THB 702 766 819
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26128 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,436 29,460 30,795
JPY 158.36 158.65 167.83
GBP 34,149 34,241 35,339
AUD 17,847 17,911 18,542
CAD 18,218 18,276 18,901
CHF 32,112 32,212 33,084
SGD 19,899 19,961 20,702
CNY - 3,801 3,938
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.68 16.35 17.75
THB 752.23 761.52 813.14
NZD 14,548 14,683 15,082
SEK - 2,659 2,747
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,623 2,710
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,004.73 - 6,764.28
TWD 746.19 - 901.83
SAR - 6,897.73 7,248
KWD - 83,270 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26454
AUD 17812 17912 18835
CAD 18189 18289 19304
CHF 32083 32113 33687
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29466 29496 31226
GBP 34232 34282 36034
HKD 0 3355 0
JPY 159.13 159.63 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14651 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19915 20045 20772
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,143 26,193 26,454
USD20 26,143 26,193 26,454
USD1 23,936 26,193 26,454
AUD 17,798 17,898 19,005
EUR 29,584 29,584 31,340
CAD 18,120 18,220 19,527
SGD 19,977 20,127 20,691
JPY 159.63 161.13 165.69
GBP 34,083 34,433 35,590
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80