Ngày 28/1/2026, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends đã phối hợp tổ chức cuộc họp với chủ đề “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”.
Tại cuộc họp, các đại biểu đều nhận định, ngành sản xuất, chế biến và thương mại sắn (ngành sắn) là một ngành có đóng góp đáng kể trong thương mại hàng hóa nông nghiệp của Việt Nam.
Kim ngạch tiêu dùng nội địa và đặc biệt xuất khẩu ngành sắn của Việt Nam tăng mạnh và đã đạt khoảng 1,3 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới, sau Thái Lan. Hiện nay, ngành sắn đã đầu tư sản xuất thân thiện với môi trường, sản phẩm khả năng ứng dụng nhiều hơn.
Ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, Việt Nam hiện vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực. Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hàng năm đạt trên 18 triệu tấn sắn tươi, trong đó khoảng 58% là nguồn cung trong nước, tương đương hơn 10 triệu tấn, đến từ khoảng 500.000 ha diện tích trồng sắn; phần còn lại, khoảng 42%, là nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia.
Toàn ngành sắn hiện có 142 nhà máy chế biến sắn, với công suất chế biến thực tế khoảng 11,5 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Đây là một trong số ít ngành hàng nông sản có năng lực chế biến lớn đến mức phải bổ sung nguyên liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
![]() |
| Quang cảnh cuộc họp. |
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với ngành sắn là các thị trường quốc tế ngày càng gia tăng yêu cầu đối với tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng.
Vì dụ gần đây nhất là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hiện đang được áp dụng với ngành cà phê, cao su và gỗ. Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đã và đang đưa ra những quy định mới nhằm ngăn chặn sản phẩm nông lâm nghiệp không có nguồn gốc rõ ràng, hoặc có quá trình sản xuất gây mất rừng và suy thoái rừng được nhập khẩu vào các thị trường này.
Ngay cả Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam, cũng đang siết chặt các yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Điều này đặt ngành sắn Việt Nam trước áp lực phải thay đổi nhanh chóng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường.
Tại cuộc họp, TS. Hà Công Tuấn - Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng khẳng định: “Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc của ngành sắn Việt Nam nằm ở phần nguyên liệu, cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu”.
Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn, nổi bật là Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, cùng với các cơ chế khuyến khích liên kết sản xuất, phát triển phù hợp.
Tuy nhiên, việc triển khai các chính sách này trên thực tế còn nhiều hạn chế, thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu công cụ giám sát và chưa tạo được các động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường có định hướng, kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt từ 1,8 - 2 tỷ USD vào năm 2030 và hướng tới mục tiêu 2,3 - 2,5 tỷ USD vào năm 2050. Đặc biệt, mục tiêu năm 2026 các hàng hóa nông lâm sản của Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài cần thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro, chống mất rừng, duy trì thị trường xuất khẩu và đảm bảo sinh kế bền vững cho hàng triệu hộ trồng sắn trong tương lai.
Để đáp ứng yêu cầu về truy xuất, ông Hà Công Tuấn đề xuất cần sớm hoàn thiện thể chế, ban hành quy định cụ thể về quy trình truy xuất nguồn gốc phù hợp với đặc thù ngành sắn. Đồng thời, ngành sắn phải quy hoạch vùng trồng; rà soát đất đai; tổ chức chuỗi cung theo hướng minh bạch, tăng liên kết giữa doanh nghiệp chế biến, hợp tác xã và người trồng sắn. Khâu trung gian thu mua cần được quản lý chặt chẽ, minh bạch thay vì loại bỏ.
![]() |
| Kim ngạch tiêu dùng nội địa và đặc biệt xuất khẩu ngành sắn của Việt Nam tăng mạnh và đã đạt khoảng 1,3 tỷ USD năm 2025. Ảnh minh họa |
TS Nguyễn Vinh Quang, cán bộ nghiên cứu của Forest Trends nêu quan điểm, để đảm bảo được việc truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần thực hiện việc tái cấu trúc chuỗi cung hiện tại, kiểm soát tốt khâu sản xuất, đặc biệt là các hoạt động sử dụng đất, chuyển đổi toàn bộ các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch các hoạt động trong chuỗi, đảm bảo đủ bằng chứng để thực hiện truy xuất.
| Theo ông Nghiêm Minh Tiến, doanh nghiệp trong ngành sắn cam kết hướng tới minh bạch chuỗi cung, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngành sắn rất cần có những hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan quản lý để đảm bảo thực hiện được các yêu cầu trên. |



