Tín dụng chưa đủ lực đỡ, đưa thị trường vốn bứt phá để cung ứng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, thị trường vốn có nhiều tín hiệu khởi sắc, song cần giải pháp đồng bộ để vượt qua thách thức, nhất là do "sóng gió" thuế quan, nhằm phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, giảm dần lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển cân bằng.
aa
Tín dụng chưa đủ lực đỡ, đưa thị trường vốn bứt phá để cung ứng vốn
Đồ họa: Ánh Tuyết

Chia sẻ tại Hội thảo tham vấn ý kiến đối với Báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2024 và triển vọng 2025” do BIDV và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội vừa qua, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế, nhưng chỉ chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư cho nền kinh tế.

Ngành Ngân hàng cũng đối diện nhiều thử thách

Thống kê của nhóm nghiên cứu Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, tín dụng ngân hàng so với GDP vào cuối năm 2024 ước đạt khoảng 136%, tăng so với mức 130% cuối năm 2023. Năm 2025, với kịch bản cơ sở, tăng trưởng tín dụng được dự báo ở mức 14 - 15%, con số này phản ánh thực tế là lực cầu và khả năng hấp thụ vốn ở một số lĩnh vực vẫn còn yếu, trong đó đáng chú ý là thị trường bất động sản chưa phục hồi mạnh, giá bất động sản vẫn ở mức cao, vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người dân.

Sức ép khi vốn mỏng nhưng mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao

"Trong năm nay, các ngân hàng thương mại đang gặp khó khăn khi phải đối mặt với việc nới lỏng chính sách tiền tệ và mục tiêu tăng trưởng tín dụng lên tới 16%, có ngân hàng đạt 20%, trong khi vốn tự có lại mỏng và yếu, thậm chí không bằng các quốc gia như Campuchia. Chẳng hạn, hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng ở Thái Lan và Singapore đạt 20%, có nghĩa là với mỗi 10 đồng cho vay, họ có 2 đồng vốn, trong khi tại Việt Nam, con số này chỉ hơn 1 đồng" - ông Nguyễn Quang Thuân phân tích.

Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả; phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách vĩ mô khác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Với kịch bản cơ sở, dự báo mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên vẫn neo quanh vùng lãi suất thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước (3,5 - 4,5% với kỳ hạn qua đêm và 1 tuần); lãi suất huy động bình quân sẽ đi ngang hoặc giảm nhẹ; lãi suất cho vay cũng được dự báo đi ngang hoặc giảm nhẹ, khoảng 0,1 - 0,3 điểm %.

"Thanh khoản hệ thống ngân hàng có thể tốt hơn năm ngoái. Tuy nhiên, trước áp lực lãi suất huy động và cho vay tăng lên, cần điều hành tốt hơn để giảm lãi suất cả đầu vào và đầu ra, đây là thách thức lớn" - TS. Cấn Văn Lực dự báo.

Cũng theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Hội đồng Quản trị FiinRatings và FiinGroup, dù muốn đa dạng hóa nguồn vốn, trong vài năm tới, nền kinh tế vẫn phải phụ thuộc vào vốn từ ngân hàng. Trong bối cảnh kìm giữ không tăng lãi suất huy động, theo ông Thuân, để tăng trưởng cho vay, họ sẽ phải tăng huy động vốn cổ phần, điều này lại gặp khó khăn, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhà nước.

Kích vốn doanh nghiệp tư nhân, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Trong bức tranh cung ứng vốn cho nền kinh tế, thị trường vốn bao gồm cả phát hành trái phiếu doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu, mức tăng trưởng đạt 37,6% so với mức tăng 13% của năm 2023, nhằm cung ứng nguồn vốn dài hạn và đa dạng hơn cho nền kinh tế, giúp giảm bớt phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn từ các ngân hàng.

Đáng chú ý, theo TS. Cấn Văn Lực, tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn thấp, chỉ khoảng 4% cung ứng vốn cho nền kinh tế hàng năm. "Chúng ta cần tìm cách tăng cường vốn từ các kênh khác mạnh mẽ hơn, nhất là từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu chỉ đóng góp 14%, quá thấp. Tôi cho rằng cấu phần này cần đóng góp khoảng 20 - 30%" - ông Lực nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, năm 2025, khung pháp lý cho lĩnh vực tài chính được kỳ vọng sẽ có nhiều thay đổi theo hướng tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển trong bối cảnh mới. Chính sách quản lý tài sản số và tiền kỹ thuật số dự kiến sẽ sớm được ban hành; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được sửa đổi theo hướng lấp đầy khoảng trống pháp lý trong xử lý nợ xấu, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 42/2017 của Quốc hội hết hiệu lực.

Cùng với đó, thị trường chứng khoán Việt Nam có khả năng được nâng hạng trong năm 2025, tạo tâm lý tích cực và củng cố niềm tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây cũng là cơ hội để thu hút dòng vốn đầu tư và thúc đẩy các cải cách thị trường. Bên cạnh đó, các xu hướng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, thực hành các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp tại các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế sẽ tiếp tục được thúc đẩy một cách thực chất và bài bản hơn.

Đề xuất các chính sách giúp phát triển ổn định, bền vững thị trường tài chính, theo TS. Cấn Văn Lực, phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng hơn, giảm bớt áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng. Theo đó, cần thúc đẩy sự phát triển và nâng hạng thị trường chứng khoán trong thời gian sớm nhất./.

Lường đón thách thức để chủ động giảm thiểu rủi ro

Theo các chuyên gia, việc cần nhận thức rõ thách thức để giảm rủi ro hệ luỵ trong bối cảnh trong nước và quốc tế biến động hơn, hệ thống tài chính vững mạnh để vượt qua khó khăn, thách thức. Bởi mặc dù triển vọng tích cực, thị trường tài chính năm 2025 vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm kiểm soát chặt chẽ do những biến động bất ngờ và khó đoán định trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chính sách thuế quan của Mỹ, ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn FDI và FII.

Cùng với đó, nợ xấu tiếp tục chịu áp lực gia tăng, đặt ra yêu cầu cần sớm luật hóa Nghị quyết 42/2017 để có cơ chế xử lý căn cơ, hiệu quả hơn. Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp vẫn rất lớn, đặc biệt rơi vào nhóm doanh nghiệp bất động sản, chiếm gần 56%.

Đưa ra các kiến nghị phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến phát hành trái phiếu, bao gồm cả thị trường trái phiếu chính phủ, nhằm tạo ra chuẩn mực về lãi suất. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm phát triển thị trường thứ cấp tập trung và hệ thống thông tin, dữ liệu về trái phiếu và tài sản đảm bảo.

"Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nhà đầu tư ở cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, Hàn Quốc, Thái Lan hay Trung Quốc đều có các hình thức phát hành đặc thù để nhắm tới một nhóm nhà đầu tư nhất định" - ông Lực gợi mở.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80