Tín dụng chưa đủ lực đỡ, đưa thị trường vốn bứt phá để cung ứng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, thị trường vốn có nhiều tín hiệu khởi sắc, song cần giải pháp đồng bộ để vượt qua thách thức, nhất là do "sóng gió" thuế quan, nhằm phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, giảm dần lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển cân bằng.
aa
Tín dụng chưa đủ lực đỡ, đưa thị trường vốn bứt phá để cung ứng vốn
Đồ họa: Ánh Tuyết

Chia sẻ tại Hội thảo tham vấn ý kiến đối với Báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2024 và triển vọng 2025” do BIDV và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội vừa qua, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế, nhưng chỉ chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư cho nền kinh tế.

Ngành Ngân hàng cũng đối diện nhiều thử thách

Thống kê của nhóm nghiên cứu Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, tín dụng ngân hàng so với GDP vào cuối năm 2024 ước đạt khoảng 136%, tăng so với mức 130% cuối năm 2023. Năm 2025, với kịch bản cơ sở, tăng trưởng tín dụng được dự báo ở mức 14 - 15%, con số này phản ánh thực tế là lực cầu và khả năng hấp thụ vốn ở một số lĩnh vực vẫn còn yếu, trong đó đáng chú ý là thị trường bất động sản chưa phục hồi mạnh, giá bất động sản vẫn ở mức cao, vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người dân.

Sức ép khi vốn mỏng nhưng mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao

"Trong năm nay, các ngân hàng thương mại đang gặp khó khăn khi phải đối mặt với việc nới lỏng chính sách tiền tệ và mục tiêu tăng trưởng tín dụng lên tới 16%, có ngân hàng đạt 20%, trong khi vốn tự có lại mỏng và yếu, thậm chí không bằng các quốc gia như Campuchia. Chẳng hạn, hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng ở Thái Lan và Singapore đạt 20%, có nghĩa là với mỗi 10 đồng cho vay, họ có 2 đồng vốn, trong khi tại Việt Nam, con số này chỉ hơn 1 đồng" - ông Nguyễn Quang Thuân phân tích.

Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả; phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách vĩ mô khác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Với kịch bản cơ sở, dự báo mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên vẫn neo quanh vùng lãi suất thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước (3,5 - 4,5% với kỳ hạn qua đêm và 1 tuần); lãi suất huy động bình quân sẽ đi ngang hoặc giảm nhẹ; lãi suất cho vay cũng được dự báo đi ngang hoặc giảm nhẹ, khoảng 0,1 - 0,3 điểm %.

"Thanh khoản hệ thống ngân hàng có thể tốt hơn năm ngoái. Tuy nhiên, trước áp lực lãi suất huy động và cho vay tăng lên, cần điều hành tốt hơn để giảm lãi suất cả đầu vào và đầu ra, đây là thách thức lớn" - TS. Cấn Văn Lực dự báo.

Cũng theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Hội đồng Quản trị FiinRatings và FiinGroup, dù muốn đa dạng hóa nguồn vốn, trong vài năm tới, nền kinh tế vẫn phải phụ thuộc vào vốn từ ngân hàng. Trong bối cảnh kìm giữ không tăng lãi suất huy động, theo ông Thuân, để tăng trưởng cho vay, họ sẽ phải tăng huy động vốn cổ phần, điều này lại gặp khó khăn, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhà nước.

Kích vốn doanh nghiệp tư nhân, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Trong bức tranh cung ứng vốn cho nền kinh tế, thị trường vốn bao gồm cả phát hành trái phiếu doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu, mức tăng trưởng đạt 37,6% so với mức tăng 13% của năm 2023, nhằm cung ứng nguồn vốn dài hạn và đa dạng hơn cho nền kinh tế, giúp giảm bớt phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn từ các ngân hàng.

Đáng chú ý, theo TS. Cấn Văn Lực, tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn thấp, chỉ khoảng 4% cung ứng vốn cho nền kinh tế hàng năm. "Chúng ta cần tìm cách tăng cường vốn từ các kênh khác mạnh mẽ hơn, nhất là từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu chỉ đóng góp 14%, quá thấp. Tôi cho rằng cấu phần này cần đóng góp khoảng 20 - 30%" - ông Lực nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, năm 2025, khung pháp lý cho lĩnh vực tài chính được kỳ vọng sẽ có nhiều thay đổi theo hướng tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển trong bối cảnh mới. Chính sách quản lý tài sản số và tiền kỹ thuật số dự kiến sẽ sớm được ban hành; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được sửa đổi theo hướng lấp đầy khoảng trống pháp lý trong xử lý nợ xấu, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 42/2017 của Quốc hội hết hiệu lực.

Cùng với đó, thị trường chứng khoán Việt Nam có khả năng được nâng hạng trong năm 2025, tạo tâm lý tích cực và củng cố niềm tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây cũng là cơ hội để thu hút dòng vốn đầu tư và thúc đẩy các cải cách thị trường. Bên cạnh đó, các xu hướng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, thực hành các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp tại các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế sẽ tiếp tục được thúc đẩy một cách thực chất và bài bản hơn.

Đề xuất các chính sách giúp phát triển ổn định, bền vững thị trường tài chính, theo TS. Cấn Văn Lực, phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng hơn, giảm bớt áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng. Theo đó, cần thúc đẩy sự phát triển và nâng hạng thị trường chứng khoán trong thời gian sớm nhất./.

Lường đón thách thức để chủ động giảm thiểu rủi ro

Theo các chuyên gia, việc cần nhận thức rõ thách thức để giảm rủi ro hệ luỵ trong bối cảnh trong nước và quốc tế biến động hơn, hệ thống tài chính vững mạnh để vượt qua khó khăn, thách thức. Bởi mặc dù triển vọng tích cực, thị trường tài chính năm 2025 vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm kiểm soát chặt chẽ do những biến động bất ngờ và khó đoán định trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chính sách thuế quan của Mỹ, ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn FDI và FII.

Cùng với đó, nợ xấu tiếp tục chịu áp lực gia tăng, đặt ra yêu cầu cần sớm luật hóa Nghị quyết 42/2017 để có cơ chế xử lý căn cơ, hiệu quả hơn. Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp vẫn rất lớn, đặc biệt rơi vào nhóm doanh nghiệp bất động sản, chiếm gần 56%.

Đưa ra các kiến nghị phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến phát hành trái phiếu, bao gồm cả thị trường trái phiếu chính phủ, nhằm tạo ra chuẩn mực về lãi suất. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm phát triển thị trường thứ cấp tập trung và hệ thống thông tin, dữ liệu về trái phiếu và tài sản đảm bảo.

"Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nhà đầu tư ở cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, Hàn Quốc, Thái Lan hay Trung Quốc đều có các hình thức phát hành đặc thù để nhắm tới một nhóm nhà đầu tư nhất định" - ông Lực gợi mở.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 144,100
Hà Nội - PNJ 140,500 144,100
Đà Nẵng - PNJ 140,500 144,100
Miền Tây - PNJ 140,500 144,100
Tây Nguyên - PNJ 140,500 144,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 144,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 14,420
Miếng SJC Nghệ An 14,120 14,420
Miếng SJC Thái Bình 14,120 14,420
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 14,422
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 14,423
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 1,437
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 1,438
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 1,422
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 140,792
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 106,811
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 96,856
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 86,901
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 83,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 59,453
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 1,442
Cập nhật: 18/08/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18093 18368 18956
CAD 18360 18636 19261
CHF 31670 32050 32712
CNY 0 3830 3940
EUR 29720 29942 31032
GBP 34696 35089 36047
HKD 0 3210 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15160 15759
SGD 19977 20259 20833
THB 708 772 825
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,769 29,793 31,203
JPY 159.89 160.18 169.86
GBP 34,883 34,977 36,185
AUD 18,296 18,362 19,054
CAD 18,547 18,607 19,292
CHF 31,937 32,036 32,972
SGD 20,099 20,162 20,949
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.14 17.87 19.44
THB 756.42 765.76 820.07
NZD 15,137 15,278 15,732
SEK - 2,709 2,805
DKK - 3,992 4,133
NOK - 2,737 2,835
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,042.64 - 6,821.32
TWD 744.19 - 901.51
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26020 26020 26400
AUD 18280 18380 19305
CAD 18544 18644 19658
CHF 31914 31944 33526
CNY 3827.9 3852.9 3988.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29901 29931 31656
GBP 35007 35057 36815
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15269 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20132 20262 20993
THB 0 738 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Cập nhật: 18/08/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80