Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, để Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) thực sự trở thành kênh dẫn vốn quốc tế vào nền kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đặc biệt về cơ chế kết nối với các tổ chức trong nước và sở giao dịch chứng khoán quốc tế.
aa

Luật hóa cơ chế phát triển VIFC là yêu cầu cần thiết

PV: Thưa ông, vì sao việc phát triển VIFC-HCMC lại có ý nghĩa đặc biệt đối với TP. Hồ Chí Minh và nền kinh tế Việt Nam?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: TP. Hồ Chí Minh hiện là trung tâm kinh tế và tài chính lớn nhất cả nước. Đến hết quý I/2026, dư nợ tín dụng trên địa bàn đã đạt hơn 5,34 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 27,84% tổng dư nợ toàn hệ thống. Quy mô huy động vốn của TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai đạt hơn 6,03 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam vào giữa tháng 5/2026 đã đạt khoảng 410 tỷ USD.

Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Mỗi năm, lượng hàng hóa trị giá hơn 1.000 tỷ USD đi qua hệ thống cảng biển trong khu vực TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, một phần đáng kể các dịch vụ tài chính gắn với dòng hàng hóa đó, từ tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, bảo hiểm, tái bảo hiểm đến phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hàng hóa hay huy động vốn, vẫn được thực hiện tại các trung tâm tài chính ở nước ngoài.

Mục tiêu của Trung tâm không nên chỉ dừng ở việc thu hút một số ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản hay doanh nghiệp fintech quốc tế đặt văn phòng tại Việt Nam. Giá trị quan trọng hơn là phải tạo ra được một hệ thống dẫn vốn mới cho nền kinh tế, bổ sung cho tín dụng ngân hàng và thị trường vốn trong nước hiện nay.

PV: Theo ông, tại sao việc tiếp tục luật hóa các cơ chế dành cho VIFC lại quan trọng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Một trung tâm tài chính quốc tế không thể được xây dựng chỉ bằng xúc tiến đầu tư hay các chính sách ưu đãi ngắn hạn. Khi quyết định đặt hoạt động tại một trung tâm tài chính, các định chế quốc tế đặc biệt quan tâm đến sự ổn định, khả năng dự báo và tính nhất quán của hệ thống pháp luật, bởi các quyết định đầu tư thường có thời hạn 10 năm, 20 năm hoặc dài hơn.

Việc tiếp tục luật hóa các cơ chế liên quan đến VIFC vì thế có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ củng cố nền tảng pháp lý cho Trung tâm mà còn giúp kết nối VIFC với chiến lược phát triển đô thị, đầu tư hạ tầng và huy động nguồn lực dài hạn cho TP. Hồ Chí Minh.

Nghị quyết số 222/2025/QH15 đã mở ra nhiều cơ chế quan trọng, trong đó có khả năng phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm để huy động vốn cho các dự án trọng điểm.

Tuy nhiên, ưu đãi hay cơ chế đặc thù mới chỉ là điều kiện cần.

Điều kiện đủ là VIFC phải có sản phẩm, thị trường, khách hàng và khả năng kết nối với nhu cầu vốn thực tế của nền kinh tế.

Hai mắt xích để VIFC thực sự dẫn vốn quốc tế vào Việt Nam

PV: Ông nhiều lần đề cập đến việc phải tạo cơ chế kết nối giữa VIFC và các tổ chức trong nước. Vì sao đây lại là vấn đề quan trọng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Theo tôi, đây là một trong những mắt xích quan trọng nhất nếu muốn VIFC trở thành một trung tâm dẫn vốn quốc tế thực sự. Chúng ta cần nghiên cứu một cơ chế cho phép Chính phủ, chính quyền địa phương cũng như các doanh nghiệp, tổ chức trong nước đáp ứng đủ điều kiện có thể sử dụng dịch vụ của các thành viên VIFC để huy động vốn quốc tế.

Nếu hoạt động của các thành viên VIFC bị giới hạn quá chặt khi cung cấp dịch vụ cho “phần còn lại của Việt Nam”, có thể xuất hiện một nghịch lý: chúng ta thu hút được ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán, công ty quản lý tài sản hay định chế tài chính quốc tế vào VIFC, nhưng các tổ chức này lại không thể cung cấp đầy đủ dịch vụ cho doanh nghiệp Việt Nam muốn huy động vốn quốc tế.

Khi đó, doanh nghiệp trong nước vẫn phải sang Singapore, Hong Kong, London hoặc các trung tâm tài chính khác để thuê ngân hàng đầu tư, tổ chức phát hành, tư vấn pháp lý, niêm yết và phân phối chứng khoán. Như vậy, VIFC có thể thu hút tổ chức tài chính đến đặt hiện diện nhưng chưa chắc tạo ra được dòng vốn thực chất cho nền kinh tế.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế
TP. Hồ Chí Minh có nền tảng kinh tế - tài chính lớn để phát triển Trung tâm tài chính quốc tế. Ảnh: Lê Toàn

PV: Nhưng liệu cơ chế này có đồng nghĩa với việc mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ tài chính trong nước cho các tổ chức tại VIFC?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Đề xuất này không phải là mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ tài chính trong nước.

Điều chúng ta cần là một cơ chế kết nối có mục tiêu, có điều kiện và được giám sát chặt chẽ.

Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn phát hành quốc tế có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng đầu tư hoặc công ty chứng khoán là thành viên VIFC để phát hành trái phiếu quốc tế, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ hay các sản phẩm tài chính khác nhằm huy động vốn từ nhà đầu tư nước ngoài.

Các thành viên VIFC chỉ được cung cấp dịch vụ trong phạm vi giấy phép và trong khuôn khổ cụ thể phục vụ cho việc phát hành, niêm yết, phân phối và giao dịch các công cụ nhằm huy động vốn quốc tế.

Tất nhiên, toàn bộ quá trình vẫn phải tuân thủ các yêu cầu rất chặt chẽ về phòng, chống rửa tiền, KYC, quản trị rủi ro, công bố thông tin, quản lý ngoại hối và giám sát an toàn hệ thống.

Nếu thiết kế tốt, đây chính là “cây cầu” nối giữa thị trường tài chính quốc tế trong VIFC với nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam.

PV: Ngoài cơ chế kết nối với doanh nghiệp trong nước, theo ông, VIFC còn thiếu mắt xích quan trọng nào?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Mắt xích thứ hai, theo tôi, là cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc thành lập Sở giao dịch chứng khoán quốc tế tại VIFC.

Một thị trường vốn quốc tế không thể chỉ có thị trường sơ cấp.

Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu để huy động vốn, nhưng nhà đầu tư chỉ sẵn sàng mua các công cụ có kỳ hạn dài nếu họ biết rằng sau đó có thể giao dịch lại trên một thị trường thứ cấp minh bạch, có thanh khoản và có cơ chế định giá đáng tin cậy.

Khả năng chuyển nhượng, giao dịch, lưu ký, bù trừ và thanh toán sau phát hành là một phần rất quan trọng quyết định sức hấp dẫn của sản phẩm tài chính.

Nếu VIFC không có một Sở giao dịch chứng khoán quốc tế và hệ thống hạ tầng thị trường tương ứng, việc phát triển các sản phẩm như trái phiếu quốc tế, cổ phiếu quốc tế, chứng chỉ quỹ, sản phẩm tài chính xanh hay những công cụ tài chính mới dành cho nhà đầu tư quốc tế sẽ gặp nhiều hạn chế.

PV: Việc thành lập một Sở giao dịch chứng khoán quốc tế có tạo ra sự chồng chéo với thị trường chứng khoán hiện nay hay không?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Sở giao dịch chứng khoán quốc tế trong VIFC không nên được xây dựng như một phiên bản thứ hai của HOSE hoặc HNX.

Nó cần có phạm vi hoạt động, nhóm nhà đầu tư, đối tượng niêm yết, sản phẩm, đồng tiền giao dịch và cơ chế giám sát khác biệt, tập trung chủ yếu vào các hoạt động tài chính xuyên biên giới.

Chẳng hạn, thị trường này có thể tập trung vào trái phiếu quốc tế, quỹ đầu tư quốc tế, sản phẩm tài chính xanh, các công cụ dành cho nhà đầu tư tổ chức cũng như những sản phẩm tài chính mới phù hợp với định hướng của VIFC.

Nghị quyết số 222/2025/QH15 đã đề cập đến việc hình thành các sàn giao dịch và nền tảng giao dịch tại Trung tâm, bao gồm sàn giao dịch hàng hóa, phái sinh hàng hóa, tín chỉ carbon, sản phẩm tài chính xanh và các loại hình nền tảng giao dịch mới.

Do đó, việc xác lập cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho một Sở giao dịch chứng khoán quốc tế có thể xem là bước hoàn thiện tiếp theo của hệ sinh thái thị trường tại VIFC.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế
TP. Hồ Chí Minh hướng tới hình thành trung tâm tài chính có khả năng thu hút và dẫn dòng vốn quốc tế. Ảnh: Lê Toàn

PV: Nếu phải khái quát định hướng quan trọng nhất để VIFC-HCMC có thể phát triển thành một trung tâm tài chính quốc tế đúng nghĩa, ông sẽ nhấn mạnh điều gì?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Theo tôi, VIFC không nên chỉ được nhìn nhận là nơi có ưu đãi thuế, thủ tục thuận lợi hay để các tổ chức tài chính quốc tế đặt văn phòng, mà phải tạo ra thị trường, sản phẩm và những kênh dẫn vốn mới cho Việt Nam.

Muốn làm được điều đó, bên cạnh các cơ chế đã được đưa vào dự thảo Luật Phát triển đô thị, theo tôi cần tiếp tục hoàn thiện hai vấn đề.

Thứ nhất là tạo cơ chế kết nối có kiểm soát giữa các thành viên VIFC và nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức trong nước.

Thứ hai là xác lập đầy đủ cơ sở pháp lý cho Sở giao dịch chứng khoán quốc tế cùng hệ thống đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán đi kèm.

Khi hai mắt xích này được hình thành, VIFC-HCMC mới thực sự có khả năng vận hành như một trung tâm tài chính quốc tế đúng nghĩa: không chỉ đưa các định chế tài chính quốc tế vào Việt Nam, mà quan trọng hơn là đưa được vốn quốc tế vào các doanh nghiệp, dự án và những ngành kinh tế có khả năng tạo ra tăng trưởng dài hạn cho Việt Nam.

- Xin cảm ơn ông !

Lạc Nguyên

Đọc thêm

Hoàn thiện thể chế, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

Hoàn thiện thể chế, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

(TBTCO) - Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia; hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh… là những giải pháp trọng tâm được nêu trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Trong vòng 1 tuần, Gia Lai thu hút 2 dự án FDI vốn hơn 139 triệu USD

Trong vòng 1 tuần, Gia Lai thu hút 2 dự án FDI vốn hơn 139 triệu USD

(TBTCO) - Chỉ trong tuần đầu tháng 8/2026, tỉnh Gia Lai thu hút được 2 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) từ Singapore với tổng vốn đầu tư 3.615 tỷ đồng (tương đương 139,04 triệu USD). Lũy kế trong năm 2026, tỉnh Gia Lai đã thu hút được 5 dự án FDI với tổng vốn hơn 3.900 tỷ đồng.
Áp dụng cơ chế đặc thù nhưng không hợp pháp hóa sai phạm

Áp dụng cơ chế đặc thù nhưng không hợp pháp hóa sai phạm

(TBTCO) - Thống nhất với việc ban hành cơ chế đặc thù cho các công trình, dự án phục vụ APEC 2027, các đại biểu Quốc hội cũng lưu ý cơ chế đặc thù chỉ áp dụng đối với những dự án, công trình phục vụ APEC 2027 và đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương; không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ trong xử lý các trường hợp tương tự.
Hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia

Hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia

(TBTCO) - Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Mở thêm tuyến đường chiến lược, tạo dư địa phát triển mới cho vùng Thủ đô

Mở thêm tuyến đường chiến lược, tạo dư địa phát triển mới cho vùng Thủ đô

(TBTCO) - Ủng hộ chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội để có thêm tuyến đường chiến lược tạo dư địa phát triển mới cho vùng Thủ đô Hà Nội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cùng nhiều vị đại biểu Quốc hội cũng đặc biệt lưu ý khâu giải phóng mặt bằng và khả năng cân đối vốn.
Làm rõ khả năng cân đối nguồn lực cho dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội

Làm rõ khả năng cân đối nguồn lực cho dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Chính phủ đề xuất đầu tư dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 288.000 tỷ đồng. Cơ quan thẩm tra và các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ nguồn vốn, lộ trình bố trí và khả năng cân đối vốn, bảo đảm dự án khả thi, không để kéo dài hoặc đầu tư dở dang.
Infographics: 7 tháng, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD

Infographics: 7 tháng, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD

(TBTCO) - Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 7 tháng năm 2026, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước.
Quảng Ngãi nhận diện điểm nghẽn, thúc giải ngân vốn đầu tư công

Quảng Ngãi nhận diện điểm nghẽn, thúc giải ngân vốn đầu tư công

(TBTCO) - Giải ngân đầu tư công của Quảng Ngãi vẫn chậm do vướng giải phóng mặt bằng, giá đất và thiếu vật liệu xây dựng. Trước thực trạng này, tỉnh đang quyết liệt tháo gỡ các điểm nghẽn nhằm tăng tốc tiến độ dự án và hoàn thành kế hoạch giải ngân năm 2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều