Tỷ giá VND/USD khấp khểnh điều chỉnh, giá vàng thế giới bất ngờ tăng mạnh

Đỗ Minh
Diễn biến tỷ giá VND/USD ở các ngân hàng thương mại trong ngày 16.9 khá khấp khểnh, khi một số ngân hàng tiếp tục điều chỉnh tăng lên và một số ngân hàng lại điều chỉnh giảm xuống...
aa

ty gia vang

Còn trên thị trường vàng trong nước và thế giới, cho đến hết giờ giao dịch chiều 16.9 (giờ Việt Nam) thì giá vàng vẫn “dậm chân tại chỗ”, nhưng sau đó giá vàng thế giới đã bật tăng lên mạnh mẽ trong phiên giao dịch đêm 16.9 tại thị trường Mỹ…

Tỷ giá VND/USD diễn biến trái chiều ở các ngân hàng

Trong phiên giao dịch ngày 16.9, tỷ giá VND/USD ở các ngân hàng thương mại lại có hiện tượng điều chỉnh trái ngược nhau, khi một số ngân hàng tiếp tục điều chỉnh tăng lên và một số ngân hàng lại điều chỉnh giảm xuống.

Cụ thể, kết thúc phiên giao dịch ngày 16.9, tỷ giá VND/USD ở 3 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước là BIDV, Vietcomban, Vietinbank đều điều chỉnh giảm đồng nhất 10 đồng/USD, thì một số ngân hàng như HSBC, VIB lại điều chỉnh tăng lên 10 đồng/USD.

Cụ thể, kết thúc phiên 16.9, tỷ giá VND/USD niêm yết ở Vietcombank và BIDV cùng có mức niêm yết là 22.470 – 22.520 đồng/USD, Vietinbank niêm yết ở mức 22.475 – 22.525 đồng/USD (giá mua vào – bán ra), giảm 10 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra.

Một số ngân hàng thương mại khác cũng điều chỉnh tỷ giá VND/USD giảm xuống, trong đó Eximbank, ACB có cùng mức giảm tỷ giá VND/USD chiều bán ra 20 đồng/USD và cùng đứng ở mức 22.450 – 22.520 đồng/USD. Còn Techcombank, SHB, TPBank vẫn giữ nguyên mức niêm yết lần lượt là 22.420 – 22.530 đồng/USD, 22.455 – 22.530 đồng/USD và 22.440 – 22.520 đồng/USD.

Trong khi đó có một số ngân hàng điều chỉnh tăng lên như: VIB tăng 10 đồng/USD khi niêm yết ở mức 22.430 – 22.520 đồng/USD, tăng thêm 10 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với ngày hôm trước (15.9); HSBC tăng thêm 10 đồng/USD ở cả hai chiều khi niêm yết ở mức 22.440 – 22.540 đồng/USD…

Có vẻ như các ngân hàng thương mại đã có những dự đoán khác nhau ngay trước thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ công bố có hay không việc tăng lãi suất đồng USD trong tháng 9 này.

Còn tại thông tin tỷ giá từ Ngân hàng Nhà nước vẫn “án binh”, khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng ngày 16.9 vẫn đứng nguyên ở mức 21.890 đồng/USD; Sở Giao dịch NHNN vẫn niêm yết tỷ giá VND/USD ở mức 21.800 – 22.475 đồng/USD (giá mua vào – bán ra); còn tỷ giá VND/EUR đứng ở mức 23.593 – 25.435 đồng/EUR.

Giá vàng thế giới đột ngột tăng mạnh

Suốt từ sáng cho đến cuối ngày 16.9 (giờ Việt Nam), giá vàng trong nước và thế giới hầu như diễn biến theo hướng căng ngang trên biểu đồ diễn biến giá. Tuy nhiên, sau khi thị trường Việt Nam đóng cửa ngày giao dịch 16.9, giá vàng SJC niêm yết ở mức giá xêm xêm với mức giá đóng ngày hôm trước (15.9), thì giá vàng trên thị trường thế giới đột ngột “bốc đầu’ tăng lên khá mạnh.

Cụ thể, đóng cửa phiên giao dịch ngày 16.9, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 33,85 – 34,08 triệu đồng/lượng, còn tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 33,85 – 34,10 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra) và chỉ nhích lên 10 ngàn đồng/lượng ở chiều bán ra.

Còn trên bảng giá của Tập đoàn DOJI, giá vàng SJC đóng cửa phiên giao dịch ngày 16.9 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đứng cùng mức giá là 34,08 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 34,00 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.

Trong khi đó, giá vàng trên thị trường châu Á đến thời điểm 20 giờ ngày 16.9 vẫn chỉ đứng loanh quanh mức giá tham chiếu của ngày hôm trước (khoảng 1.108 USD/ounce), thì sau thời điểm 20 giờ đã “bốc đầu” tăng lên tới hơn 1.124,12 USD/ounce, tăng lên tới khoảng 16 USD/ounce.

Quy đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới hiện tương đương khoảng 30,51 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC chiều bán ra ở Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn tại TP. Hồ Chí Minh 3,57 triệu đồng/lượng, theo đó đã giúp thu hẹp khoảng gần 500 ngàn đồng/lượng so với mức chênh của ngày 15.9.

gia vang
Giá vàng thế giới đột ngột tăng mạnh trong đêm 16.9. Nguồn: kitco.com

Việc giá vàng thế giới đột ngột tăng lên mạnh mẽ như hiện nay đang chưa rõ nguyên nhân vì đâu, bởi thông tin từ cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn chưa được công bố là sẽ tăng hay không tăng lãi suất đồng USD trong tháng 9 này không.

Do vậy, có thể giới đầu tư vàng đã có được thông tin rò rỉ từ cuộc họp của FED nên đã tung tiền vào kênh đầu tư vàng, nhưng cũng có thể các nhà đầu tư đang mạo hiểm tung tiền ra “ôm hàng” để đón cơ hội “bắt sóng” tăng.

Bởi thực tế cho thấy, nếu FED quyết định tăng lãi suất, thì thị trường vàng sẽ chịu áp lực giảm giá, ngược lại nếu FED trì hoãn việc tăng lãi suất cũng sẽ là động lực để thúc đẩy giá vàng tăng lên.

Những động thái của thị trường vàng và tiền tệ hiện đang diễn ra những động thái khá khập khễnh và có thể đó là biểu hiện về sự đánh giá khác nhau của các nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh trước sự kiện đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư toàn cầu về một quyết định lịch sử của FED trong việc có ra quyết định tăng lãi suất đồng USD ngay trong tháng 9 này, hay lại tiếp tục trì hoãn./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,230
USD20 25,678 25,828 26,230
USD1 25,658 25,828 26,230
AUD 18,213 18,313 19,419
EUR 29,320 29,420 31,078
CAD 18,289 18,389 19,696
SGD 20,129 20,279 20,835
JPY 164.9 166.4 171.95
GBP 34,414 34,564 35,627
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30