VAMC bán nợ xấu: Ai sẽ là người bỏ tiền ra mua?

Nam Phong (thực hiện)
Các tổ chức mua nợ xấu đều có mục đích là để sinh lời. Vì vậy họ phải phân tích cả đầu vào và đầu ra, mua xong bán cho ai, đâu là phân khúc người mua cuối cùng? Vì vậy phải có cơ chế khai thông vấn đề này.
aa

AMC

Đây là ý kiến của chuyên gia tài chính Phạm Nam Kim trong cuộc trao đổi với PV TBTCVN về việc VAMC xúc tiến bán nợ xấu cho đối tác nước ngoài.

* Hiện nay sau khi mua hơn 50.000 tỷ đồng nợ xấu, VAMC đã lên kế hoạch bán nợ xấu cho đối tác nước ngoài. Theo ông liệu đây có phải là một giải pháp khả thi để góp phần xử lý được hàng trăm ngàn tỷ đồng nợ xấu trong hệ thống?

- Như ý kiến tôi đã nêu trước đây, muốn xử lý nợ xấu phải đổ tiền thật để bù lắp lỗ hổng tài chính gây nên bởi khoản nợ xấu khoảng 300.000 tỷ đồng. Đó là cách duy nhất để ổn định hệ thống ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng tăng tín dụng vực dậy nền kinh tế quốc gia.

VAMC trong những bước đầu đã dùng tiền “kế toán” để mua lại một phần nợ xấu, phương án này chỉ tạo được những bản cân đối ngân hàng "sạch sẽ" hơn, nhưng thực tình không củng cố được nền tài chính và ngân hàng vẫn rất lo sợ khi phát triển tín dụng mới. Ta cũng nên nhớ là khi ngân hàng "bán" nợ xấu cho VAMC, họ chỉ "ủy thác" việc xử lý nợ xấu cho VAMC, họ vẫn hoàn toàn chịu trách nhiệm trên những khoản nợ xấu này.

Khi VAMC dự kiến tiến hành bước thứ 2 - bán nợ xấu ra thị trường, thì đó là một điểm tốt và cụ thể mang lại “tiền thật” cho ngân hàng. Nếu trong bước này, VAMC bán được cho đối tác nước ngoài thì lại còn tốt hơn nữa, vì dòng vốn trong nước không được dồi dào lắm, thị trường tài chính trong nước đang bị ùn tắc vì còn các hoạt động cổ phần hóa DNNN, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, trái phiếu chính phủ.

Tuy nhiên, nếu bán hết được 50.000 tỷ đồng nợ xấu thì VAMC mới chỉ xử lý được 16% khối nợ xấu tính đến thời điểm tháng 3/2014 và từ đó đến giờ nợ xấu vẫn tiếp tục tăng.

* Theo ông, vướng mắc lớn nhất với nhà đầu tư nước ngoài khi mua nợ xấu ở Việt Nam là gì, nhất là khi đa số tài sản bảo đảm hiện nay là bất động sản?

VAMC bán nợ xấu: Ai sẽ là người bỏ tiền ra mua?
Xử lý nợ xấu thông qua bán tài sản đảm bảo địa ốc vẫn thông dụng nhất. Một tổ chức đứng ra mua lại nhà cửa được thế chấp sau đó bán lại cho dân cư. Chuyên gia Phạm Nam Kim

- Bán nợ xấu cho đối tác nước ngoài là một chuyện, nhưng ta phải biết ta bán dưới hình thức nào và ai sẽ là người mua?

Theo thông lệ, ta có thể bán nợ xấu dưới 3 hình thức. Một là, chuyển nhượng toàn bộ món nợ cho người mua. Hai là, tái cấu trúc món nợ thành nguồn vốn chủ sở hữu và ta chuyển nhượng cổ phiếu của con nợ cho người mua. Ba là, tất toán khoản vay và chuyển nhượng tài sản đảm bảo.

Trên thị trường nợ xấu thế giới, những tổ chức quan tâm đến chuyện mua nợ là các quỹ đầu cơ (Hedge Fund). Các quỹ này thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, nên họ rất quan tâm đến những dịch vụ có tính cách đầu cơ hơn là đầu tư. Thứ đến là những ngân hàng đầu tư và sau đó là đầu tư trực tiếp của những tập đoàn và công ty.

Ngoại trừ những công ty đầu tư trực tiếp, các tổ chức khác đều mua nợ xấu với mục đích bán lại để sinh lời. Vì vậy, họ không những phân tích đầu vào mà cả đầu ra, mua xong nợ xấu rồi sẽ bán lại cho ai? Và họ phải định rõ phân khúc người mua cuối cùng của những khoản nợ xấu.

Đối với dự án bán nợ xấu cho những đối tác nước ngoài, vướng mắc nằm cả ở hai đầu. Ở đầu vào, nếu những đối tác này mua lại khoản nợ họ phải có tư cách pháp nhân để quản lý tín dụng tại Việt Nam. Theo tôi, rất có thể họ phải có giấy phép hoạt động như mọi tổ chức tín dụng. Nếu những đối tác này mua lại cổ phần của một công ty Việt Nam (tái cơ cấu khoản nợ thành cổ phiếu) thì trong một số trường hợp, họ có thể bị hạn chế trong việc tham gia vào vốn chủ sở hữu. Còn nếu họ mua lại tài sản đảm bảo là nhà đất thì họ phải theo đúng luật sở hữu địa ốc cho tổ chức nước ngoài.

Còn ở đầu ra, nếu là cổ phiếu thì không có vấn đề gì, nhưng nếu là địa ốc thì luật hiện tại cũng có những hạn chế quyền mua, dù là cá nhân hay tổ chức.

Vì những lý do trên, về cơ bản, Việt Nam cần sửa đổi một số luật hiện hành thì mới có thể tạo được sức thu hút đối với những nhà đầu tư nước ngoài trong vấn đề bán nợ xấu này.

* Với kinh nghiệm nhiều năm trên thị trường tài chính quốc tế, ông có thể chia sẻ những kinh nghiệm, thực tiễn, bài học từ việc bán nợ xấu ở một số quốc gia?

- Từ cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 tới nay, rất nhiều hệ thống ngân hàng trên thế giới bị sa vào cái bẫy nợ xấu. Nhìn lại những kinh nghiệm, xử lý nợ xấu ở Mỹ, Nhật, Trung Quốc, hoặc gần đây ở Tây Ban Nha, Aixơlen, thì ta thấy xử lý nợ xấu thông qua bán tài sản đảm bảo địa ốc vẫn thông dụng nhất.

Có nghĩa là, một tổ chức đứng ra mua lại nhà cửa được thế chấp, sau đó bán lại cho dân cư. Những tố chức đó có thể là tổ chức nước ngoài, nhưng người mua cuối cùng vẫn là người bản xứ. Tất nhiên, giá mua những nhà đất cầm cố rất thấp so giá trị sổ sách của khoản nợ và khi được bán lại cho dân cư cũng với một giá rất thấp so với giá thị trường. Khi việc mua bán này có một quy mô lớn tại địa phương hay quốc gia thì nó sẽ kéo theo sự giảm giá đồng loạt của thị trường địa ốc, nhưng ngược lại nó cũng khởi động lại thị trường địa ốc.

Trong lĩnh vực ngân hàng, qua thực tiễn công tác và sinh sống ở Thụy Sỹ, tôi nhận thấy rằng, các ngân hàng trong thời kỳ bị rơi vào tình trạng nợ xấu thì phương án bán nợ xấu là phương án cuối cùng, bởi họ một mặt bị cơ quan giám sát thúc đẩy xử lý nợ xấu, mặt khác không còn cách nào khác xóa nợ xấu trong bản cân đối tài chính.

Đối với ngân hàng, phương án tối ưu vẫn là được bơm thêm tiền vào để tái cơ cấu vốn chủ sở hữu và vực dậy phát triển kinh doanh rồi với tiền lợi nhuận xóa dần nợ xấu.

* Xin cảm ơn ông!

Nam Phong (thực hiện)

Nam Phong (thực hiện)

Đọc thêm

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.106 VND/USD; tỷ giá ngân hàng dao động trong biên độ 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD, còn thị trường tự do đi ngang. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,88% xuống 98,98 điểm, mất mốc quan trọng 100 điểm sau khi thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Kim TT/AVPL 17,110 ▲170K 17,510 ▲260K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲150K 17,480 ▲240K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,860 ▲240K 17,260 ▲240K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,810 ▲240K 17,210 ▲240K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,740 ▲240K 17,190 ▲240K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Nghệ An 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Thái Bình 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
NL 99.90 15,620 ▲120K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650 ▲120K
Trang sức 99.9 16,590 ▲200K 17,290 ▲200K
Trang sức 99.99 16,600 ▲200K 17,300 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 ▼1524K 17,502 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 ▼1524K 17,503 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,705 ▲1536K 1,745 ▲1573K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,705 ▲1536K 1,746 ▲25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,685 ▲1518K 173 ▼1532K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,787 ▲2475K 171,287 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,013 ▲1875K 129,913 ▲1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,902 ▲1700K 117,802 ▲1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,791 ▲1526K 105,691 ▲1526K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,119 ▲1458K 101,019 ▲1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,398 ▲1042K 72,298 ▲1042K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cập nhật: 08/04/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18839
CAD 18448 18725 19343
CHF 32718 33103 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30121 30395 31423
GBP 34550 34942 35876
HKD 0 3231 3433
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15004 15594
SGD 20109 20392 20909
THB 737 800 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,391 30,415 31,672
JPY 162.51 162.8 171.58
GBP 34,854 34,948 35,934
AUD 18,350 18,416 18,998
CAD 18,724 18,784 19,358
CHF 33,123 33,226 33,987
SGD 20,314 20,377 21,056
CNY - 3,795 3,916
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.55 17.26 18.66
THB 786.48 796.19 847.21
NZD 15,102 15,242 15,599
SEK - 2,799 2,880
DKK - 4,067 4,184
NOK - 2,710 2,794
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,206.3 - 6,966.87
TWD 751.33 - 904.58
SAR - 6,915.29 7,238.87
KWD - 83,845 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26361
AUD 18184 18284 19207
CAD 18636 18736 19751
CHF 32977 33007 34590
CNY 3795.5 3820.5 3956.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30310 30340 32065
GBP 34849 34899 36663
HKD 0 3355 0
JPY 162.67 163.17 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15122 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20272 20402 21125
THB 0 767.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,361
USD20 26,155 26,205 26,361
USD1 26,155 26,205 26,361
AUD 18,296 18,396 19,502
EUR 30,469 30,469 31,877
CAD 18,614 18,714 20,019
SGD 20,355 20,505 21,450
JPY 163.27 164.77 169.31
GBP 34,739 35,089 36,220
XAU 17,198,000 0 17,552,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80