VDB: Giữ vai trò chủ lực cấp tín dụng đầu tư của nhà nước

Tuấn - Hải
Trải qua 15 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã nỗ lực vượt qua những khó khăn, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị được Chính phủ giao. Những nguồn vốn tín dụng do VDB quản lý cho vay đã góp phần tích cực phục vụ tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước.
aa

Vốn giải ngân qua VDB chiếm gần 4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã đảm bảo huy động đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thông qua việc huy động và tài trợ vốn cho các dự án phát triển, đặc biệt là các dự án trọng điểm của Chính phủ. Tính chung, vốn tín dụng đầu tư (TDĐT) do VDB giải ngân trong giai đoạn vừa qua chiếm gần 4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng khoảng 1,5% GDP. Trong đó, tín dụng từ nguồn vốn trong nước chiếm 2,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 0,9% GDP; giải ngân nguồn vốn ODA chiếm 1,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 0,6% GDP.

nhà-máy-lọc-dầu-dung-quất.jpg
Một góc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sử dụng nguồn vốn VDB cấp.

Nhờ huy động được lượng vốn lớn, tín dụng của VDB đã được đẩy mạnh đáng kể với tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ bình quân đạt 12,6%/năm, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dự án của các doanh nghiệp, góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của nền kinh tế.

Các hình thức hỗ trợ gián tiếp khác như hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng cũng góp phần quan trọng trong việc mở rộng thêm các kênh vốn thương mại, thúc đẩy gia tăng nguồn lực xã hội dành cho đầu tư phát triển, đồng thời làm gia tăng tín dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD), tăng tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Cụ thể, VDB đã cấp ra 1.639 tỷ đồng hỗ trợ sau đầu tư cho các dự án, qua đó đã tác động tích cực tới việc chủ đầu tư các dự án sử dụng hiệu quả gần 40.000 tỷ đồng vốn vay từ NHTM.

Số vốn tuyệt đối và tỷ trọng huy động vốn qua phát hành trái phiếu trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung ngày càng tăng; tổng số vốn VDB huy động được qua hình thức này khoảng 300.000 tỷ đồng. Trong đó, có giai đoạn chiếm đến 75% doanh số huy động; giữ vững vị trí là nhà phát hành trái phiếu lớn thứ 2 toàn nền kinh tế sau Kho bạc Nhà nước.

Bình quân dư nợ của VDB chiếm khoảng 6,1% tổng dư nợ toàn thị trường; đối với một tổ chức mới, đây là lượng vốn đáng kể, thể hiện sự đóng góp tích cực trên thị trường; với bất kỳ sự điều chỉnh nào làm biến động hoạt động của VDB cũng có những ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển ổn định của thị trường ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Tỷ lệ vốn tín dụng của VDB thực hiện trong 10 năm qua đối với lĩnh vực công nghiệp, xây dựng luôn tăng nhanh, duy trì mức bình quân hơn 70% dư nợ luôn cao hơn tỷ lệ vốn đầu tư của toàn xã hội trong lĩnh vực này, thu hút các nguồn vốn khác trên thị trường cùng cho vay đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng.

Thông qua việc đẩy mạnh cho vay đầu tư, đã góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đầy đủ điện năng, tạo tiền đề phát triển cho các loại hình du lịch quốc tế thông qua một số chương trình/dự án trọng điểm nổi bật là: Đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nhà ga T2 - Sân bay Nội Bài, Điện gió Bạc Liêu, Nhà máy thủy điện Sơn La, Nhà máy thủy điện Lai Châu, Nhà máy nhiệt điện Ô môn 1 và các dự án điện nguồn và truyền tải điện quốc gia; các nhà máy xi măng, luyện thép, cơ khí trọng điểm, VDB hiện đang quản lý cho vay: 183 dự án trọng điểm trên phạm vi cả nước (dự án Nhóm A - quy mô tăng gần 2 lần so thời điểm thành lập).

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, VDB cho vay 230 dự án, góp phần quan trọng nâng cao năng lực chế biến và bảo quản sau thu hoạch. 642 dự án với số vốn vay theo hợp đồng tín dụng (HĐTD) gần 53.000 tỷ đồng đầu tư vào một số lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu và trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm cây công nghiệp, lâm sản, thuỷ hải sản và thực phẩm, kiên cố hoá kênh mương và đường giao thông nông thôn, xây dựng mới trạm bơm nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cụm tuyến dân cư vùng lũ. 307 dự án an sinh xã hội (trường học, bệnh viện, xử lý rác thải, cấp nước sạch, nhà ở xã hội,…) với số vốn vay theo HĐTD đạt hơn 50.000 tỷ đồng.

Về tín dụng xuất khẩu, với doanh số cho vay hơn 142.000 tỷ đồng, VDB đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh, tranh thủ thời cơ mở rộng và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp giữ vững thị trường truyền thống, khai thác các thị trường mới và tiềm năng. Đối với một số thị trường đặc thù như Iraq, Cuba, trong khi các NHTM hạn chế cung cấp tín dụng, VDB vẫn thể hiện rõ vai trò công cụ chính sách khi vẫn tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu sang các thị trường này và các thị trường mới ở Châu Phi hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện hợp đồng xuất khẩu, tạo uy tín trong hợp tác kinh tế và quan hệ giữa Việt Nam và các nước. Tuy nhiên, từ 2017, Chính phủ chỉ đạo VDB dừng cho vay xuất khẩu để tập trung nguồn lực vào TDĐT.

Một số khó khăn, hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được, trong quá trình hoạt động VDB còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế. Thứ nhất, danh mục đầu tư ngày càng thu hẹp và giảm dần tính ưu đãi. Cụ thể, từ năm 2006 đến nay, danh mục đối tượng vay vốn tại VDB được quy định cố định tại Nghị định với thời gian kéo dài; danh mục này thu hẹp theo hướng quy định thêm giới hạn quy mô dự án và lĩnh vực đầu tư. Danh mục các ngành nghề, dự án đã được tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm cần khuyến khích đầu tư theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn một số dự án quan trọng tuy đã được xác định chủ trương ưu tiên đầu tư nhưng chưa được đưa vào danh mục đối tượng hưởng ưu đãi từ nguồn vốn TDĐT của Nhà nước.

cao-tốc-hà-nội-hải-phòng.jpg
Một góc đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng sử dụng nguồn vốn cấp lại từ VDB.

Cơ chế, chính sách của Nhà nước đã và đang từng bước giảm bớt tính ưu đãi của tín dụng Nhà nước, làm giảm sức cạnh tranh, giảm vai trò hỗ trợ của VDB đối với doanh nghiệp như: Bảo đảm tiền vay đã không còn ưu đãi so với cho vay thương mại; lãi suất vay vốn đang dần tiệm cận với lãi suất cho vay của các NHTM trong cùng lĩnh vực..., không còn thu hút các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tiếp cận với nguồn vốn này.

Trong điều kiện đó, các trình tự, thủ tục mà khách hàng phải đáp ứng để có đủ điều kiện vay vốn TDĐT của Nhà nước chậm được thay đổi phù hợp như: Các dự án phải tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục đầu tư áp dụng đối với các dự án sử dụng vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, đối tượng hỗ trợ của VDB có tính rủi ro cao (các dự án đầu tư có tính thương mại thấp hoặc các khách hàng mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá vào các thị trường mới), trong khi cơ chế để hạn chế và xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng hầu như không phù hợp nên khi rủi ro tín dụng xảy ra, rủi ro pháp lý đối với VDB là khá cao.

Hai là, mô hình hoạt động và khung chính sách cho hoạt động của VDB còn nhiều bất cập. Là ngân hàng chính sách của Chính phủ hoạt động trong lĩnh vực cho vay đầu tư phát triển, hoạt động của VDB không những bị điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp lý trong lĩnh vực đầu tư công, quản lý xây dựng, quản lý ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, do khung pháp lý cho hoạt động của VDB được xây dựng chủ yếu dựa trên sự kế thừa các quy định áp dụng đối với Quỹ Hỗ trợ phát triển và vận dụng các quy định khác của pháp luật trong quá trình hoạt động nên hoạt động của VDB sẽ kém linh hoạt hơn so với các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng khác và rủi ro pháp lý trong hoạt động của VDB rất cao.

Quá trình nghiên cứu, xây dựng, đổi mới trong hoạt động tín dụng chính sách của Nhà nước khá chậm, chưa giải quyết toàn diện các vấn đề vướng mắc, chưa thật sự phù hợp thực tiễn như: Đối tượng cho vay, mức độ ưu đãi về lãi suất, xác định mức lãi suất, về thời hạn cho vay, cơ chế phân loại nợ, cơ chế tài chính, cơ chế trích lập và xử lý rủi ro…

Ba là, mô hình tổ chức bộ máy, sắp xếp, bố trí và đào tạo cán bộ, cơ chế tiền lương đang trong quá trình hoàn thiện…/.

Tuấn - Hải

Tuấn - Hải

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80