Xử lý yếu tố đầu cơ vàng cần được thực hiện một cách mạnh mẽ

Thái Duy
(TBTCO) - Thị trường vàng vẫn là tâm điểm khi các giải pháp đưa ra chưa đem lại hiệu quả rõ rệt. Theo SSI Research, trong điều kiện nguồn cung bị hạn chế, việc xử lý yếu tố đầu cơ cần phải được thực hiện mạnh mẽ, trong đó cần đưa ra một mức mục tiêu cụ thể đối với mức độ chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới.
aa

Cần có mục tiêu cụ thể về mức chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần qua của SSI Research cho biết, tâm điểm thị trường đến từ mức bật tăng của giá vàng SJC, khi tăng tới 8% trong một tuần (trong khi giá vàng nhẫn và giá vàng thế giới chỉ tăng khoảng 3% trong tuần qua). Như vậy, chênh lệch giữa giá vàng SJC trong nước và thế giới đã bị nới rộng ra gần 20 triệu đồng/lượng và việc thực hiện đấu thầu vàng không đem lại kết quả.

Các chuyên gia của SSI Research cho rằng, trong điều kiện nguồn cung bị hạn chế (Nghị định 24/2012/NĐ-CP chưa được sửa đổi và việc tăng nhập khẩu vàng cũng sẽ ảnh hưởng lớn tới tỷ giá), việc xử lý yếu tố đầu cơ cần phải được thực hiện mạnh mẽ, trong đó cần đưa ra một mức mục tiêu cụ thể đối với mức độ chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới.

Xử lý yếu tố đầu cơ vàng cần được thực hiện một cách mạnh mẽ

Trên thị tường ngoại hối trong nước tuần qua, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng tăng nhẹ 0,15% lên lại vùng đỉnh lịch sử (25.450 đồng). Ngược lại, tỷ giá niêm yết của VCB và tự do giao dịch cân bằng hơn và không có nhiều thay đổi so với tuần trước đó, đóng cửa lần lượt ở 25.480 VND và 25.750 VND.

Các chuyên gia của SSI Research cho rằng, nhìn chung, áp lực với tỷ giá đã hạ nhiệt hơn sau những tín hiệu từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đưa ra hay các số liệu về nguồn cung ngoại tệ tích cực (FDI 4 tháng giải ngân đạt 6,3 tỷ USD hay cán cân thương mại 4 tháng đầu năm thặng dư 9 tỷ USD).

Tuy nhiên, yếu tố mùa vụ (doanh nghiệp FDI thường có xu hướng chuyển lợi nhuận về nước trong quý II và quý III) có tác động kém tích cực tới tỷ giá. Do vậy, “chúng tôi kỳ vọng tỷ giá VND/USD vẫn sẽ có biến động mạnh trong thời gian tới, trước khi hạ nhiệt về cuối năm” - Chuyên gia của SSI Research cho hay.

Lãi suất huy động đã bắt đầu nhích tăng

Cũng theo báo cáo thị trường tiền tệ của SSI Research, trong tuần trước, thanh khoản hệ thống tiếp tục ở trạng thái ổn định mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rút ròng gần 119,7 nghìn tỷ đồng thông qua kênh thị trường mở. Cụ thể, chỉ có 7,3 nghìn tỷ đồng trên kênh mua kỳ hạn được sử dụng, ở kỳ hạn 7 ngày và lãi suất trúng thầu là 4,25% trên tổng số 118,4 nghìn tỷ đồng đáo hạn.

Đồng thời, NHNN gia tăng lượng phát hành trên kênh tín phiếu kỳ hạn 28 ngày lên 33,94 nghìn tỷ đồng trên tổng số 25,25 nghìn tỷ đồng đáo hạn. Tính đến hết phiên ngày thứ 6, khối lượng tín phiếu NHNN lưu hành tăng lên 65,15 nghìn tỷ đồng và khối lượng lưu hành trên kênh mua kì hạn giảm mạnh về chỉ còn 7,3 nghìn tỷ đồng.

Xử lý yếu tố đầu cơ vàng cần được thực hiện một cách mạnh mẽ

Tương tự, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm có một tuần không có nhiều biến động và chốt phiên giao dịch ngày 10/5 ở 4,22%, giảm 6 điểm cơ bản so với tuần trước đó. Chênh lệch lãi suất VND-USD vào khoảng 100 điểm cơ bản. Trong tuần này, khối lượng đáo hạn trên kênh tín phiếu và mua kỳ hạn không quá đột biến, lần lượt là 13,1 nghìn tỷ đồng và 7,3 nghìn tỷ đồng.

Ngược lại, lãi suất huy động trên thị trường 1 đã bắt đầu nhích tăng ở hầu hết các kỳ hạn, với mức tăng phổ biến là từ 10 đến 50 điểm cơ bản. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng áp dụng chính sách lãi suất ưu đãi hơn dành cho sản phẩm gửi tiền trực tuyến (cao hơn sản phẩm gửi tại quầy khoảng 10 – 50 điểm cơ bản).

“Nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động cho kỳ hạn 12 tháng dành cho khách hàng cá nhân vào khoảng 4,8 – 5,4%, đang thấp hơn khoảng 20-30 điểm cơ bản so với cuối năm 2023. Lãi suất huy động dành cho khách hàng tổ chức hiện chỉ mới tăng nhẹ ở một số ngân hàng thương mại khác, đang niêm yết ở vùng 4,2% - 5,2% cho kỳ hạn 12 tháng” - SSI Research cho biết.

Trong tuần trước Ngân hàng Trung ương Úc (RBA) và Anh (BoE) đều có quyết định giữ nguyên lãi suất trong cuộc họp tháng 5, trong khi biên bản cuộc họp tháng 4 của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cho thấy các thành viên hội đồng đang theo dõi chặt chẽ tác động của đồng Yên lên lạm phát. Điều này khiến thị trường bắt đầu có đánh giá BoJ có thể tăng lãi suất sớm hơn dự kiến và giảm lượng mua trái phiếu.

Đồng USD, thông qua chỉ số DXY gần như không có nhiều biến động mạnh trong tuần qua và chốt tuần tăng 0,3%. JPY (-1,8%) tiếp tục mất giá mạnh so với USD và các đồng tiền trong khu vực châu Á cũng đều giảm giá nhẹ so với USD như KRW (-0,37%), TWD (-0,19%) hay THB (-0,13%).

Thái Duy

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80