Agribank - Tự hào hành trình 34 năm phát triển

(TBTCO) - Trong suốt 34 năm phát triển, Agribank luôn phát huy vai trò tiên phong, thực thi nghiêm túc, có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả. Bằng những đóng góp tích cực của mình, Agribank được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý. Các tổ chức quốc tế bình chọn Agribank đứng thứ 446/1000 ngân hàng lớn nhất thế giới.
aa

Tiên phong thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước phục vụ “tam nông”

Trước yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước, ngày 26/3/1988, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập với nhiệm vụ chính đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Vượt lên những khó khăn, thách thức những ngày đầu mới thành lập, với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, nhân viên đã cùng nhau đoàn kết, nỗ lực xây dựng và phát triển Agribank trở thành ngân hàng có quy mô tổng tài sản, huy động vốn và dư nợ cho vay nền kinh tế cũng như mạng lưới hoạt động lớn nhất hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Agribank - Tự hào hành trình 34 năm phát triển
Ngoài việc đồng hành cùng "tam nông", Agribank được ghi nhận là ngân hàng có trách nhiệm xã hội. Ảnh: Agribank

Bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, trong suốt 34 năm phát triển, Agribank luôn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của một ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước trong việc tiên phong thực thi nghiêm túc, có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể.

Agribank cũng đã đồng hành cùng ngành Ngân hàng có những đóng góp đáng kể vào thành công của sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nước, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.

Đến cuối năm 2021, tổng tài sản của Agribank đạt 1,68 triệu tỷ đồng; nguồn vốn đạt trên 1,58 triệu tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,31 triệu tỷ đồng, hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả, tiếp tục là một trong những doanh nghiệp có đóng góp nhiều nhất đối với ngân sách Nhà nước. Agribank luôn dành 70% dư nợ cho vay đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chiếm gần 40% tổng dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Các chương trình tín dụng của Agribank đã và đang đóng góp rất quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới của đất nước, góp phần tạo nên sự phát triển bứt phá của nền nông nghiệp khẳng định vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế.

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank rất quan tâm đến công tác hỗ trợ an sinh xã hội với nhiều dự án, chương trình tài trợ tổng thể và dài hạn trên khắp cả nước, ủng hộ công tác phòng chống dịch Covid-19, khẳng định một Agribank luôn nghĩa tình, trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, lan tỏa tinh thần sẻ chia, văn hóa nghĩa tình của người Agribank tiếp nối đạo lý, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Đứng thứ 466/1000 ngân hàng lớn nhất thế giới

Sau 34 năm xây dựng và trưởng thành, Agribank được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý về thành tích xuất sắc phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ đổi mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Agribank được bình chọn đứng thứ 446/1000 ngân hàng lớn nhất thế giới, nhiều năm liền đạt Top 10 VNR500 doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và phát triển cộng đồng, Ngân hàng vì cộng đồng, là đối tác tin cậy của hàng triệu khách hàng, đối tác, tổ chức tài chính quốc tế. Năm 2021, Agribank tiếp tục tăng bậc xếp hạng tín nhiệm thế giới và khu vực.

Agribank - Tự hào hành trình 34 năm phát triển
Agribank luôn đồng hành cùng người dân phát triển sản xuất kinh doanh, xóa đói giảm nghèo. Ảnh: Agribank

Uy tín, thương hiệu Agribank tiếp tục cải thiện tích cực. Moody’s xếp hạng tín nhiệm quốc tế ở mức Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia. Tạp chí quốc tế uy tín The Asian Banker xếp hạng 138/500 ngân hàng hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về quy mô tài sản và tăng 96 bậc xếp hạng về chất lượng hoạt động so với công bố năm 2020. Agribank được xếp hạng cao nhất trong các ngân hàng Việt Nam tại Bảng xếp hạng 500 thương hiệu ngân hàng giá trị lớn nhất toàn cầu theo đánh giá của Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới Brand Finance và Bảng xếp hạng 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500).

Tiếp nối truyền thống tự hào 34 năm phát triển, toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động trong toàn hệ thống Agribank quyết tâm nêu cao tinh thần đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cùng nhau dựng xây Agribank ngày càng phát triển, tập trung triển khai có hiệu quả Đề án chiến lược phát triển đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, chuẩn bị sẵn sàng cho công tác cổ phần hóa và chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần có vốn chi phối của Nhà nước.

Tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò Ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, chủ lực trên thị trường tài chính, nhất là nông nghiệp, nông thôn, hướng tới ngân hàng bán lẻ, ngân hàng số, hiện đại và hội nhập; cùng các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong khối doanh nghiệp trung ương giữ vững vị trí then chốt, dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp tích cực xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

NHỮNG DẤU MỐC LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH 34 NĂM PHÁT TRIỂN AGRIBANK

1988: Thành lập ngày 26/3/1988 với tên gọi Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam

1990: Đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam

1995: Đề xuất thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, nay là Ngân hàng Chính sách xã hội, tách ra từ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam

1996: Đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

2003: Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”; Triển khai hiện đại hóa hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) tại các chi nhánh của Agribank

2005: Mở Văn phòng đại diện đầu tiên tại nước ngoài - Văn phòng đại diện Campuchia

2006: Đạt Giải thưởng Sao Vàng đất Việt

2007: Doanh nghiệp số 1 Việt Nam (theo xếp hạng của UNDP)

2008: Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì; đảm nhận chức Chủ tịch Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp và Nông thôn - Châu Á - Thái Bình Dương (APRACA); Top 10 Giải thưởng Sao Vàng đất Việt

2009: Vinh dự được đón Tổng Bí thư tới thăm và làm việc; Là ngân hàng đầu tiên lần thứ 2 liên tiếp đạt Giải thưởng Top 10 Sao Vàng đất Việt; Khai trương hệ thống IPCAS II, kết nối trực tuyến toàn bộ 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn hệ thống

2010: Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam

2011: Chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu

2012: Là Ngân hàng thương mại có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam; Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam VNR500; Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN; Thương hiệu nổi tiếng ASEAN; Ngân hàng có chất lượng thanh toán cao; Ngân hàng thương mại thanh toán hàng đầu Việt Nam

2013: Kỷ niệm 25 năm thành lập, đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba

2014: Ngân hàng Thương mại duy nhất lần thứ 5 liên tiếp thuộc Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam VNR500; Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings nâng xếp hạng tín nhiệm của Agribank lên B+

2015: Triển khai thành công Đề án Tái cơ cấu đã được Thống đốc NHNN Việt Nam phê duyệt; Ra mắt hệ thống phát hành và thanh toán thẻ CHIP theo chuẩn EMV

2016: Tổng tài sản cán mốc trên 01 triệu tỷ đồng; Là ngân hàng đứng đầu hệ thống ngân hàng theo Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam; Top 20 Doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam

2017: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương cổ phần hóa Agribank

2018: Kỷ niệm 30 năm thành lập, đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

2019: Tăng trưởng cao nhất kể từ khi thành lập; xếp hạng thứ 142/500 ngân hàng lớn nhất Châu Á về quy mô tài sản; Quán quân các NHTM được vinh danh Top 10 Bảng xếp hạng VNR500

2020: Thực hiện thành công phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020; Agribank được tín nhiệm đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhiệm kỳ VII (2020- 2024).

2021: Khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu của Tổ chức tín dụng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19. Moody’s xếp hạng tín nhiệm ở mức Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia; The Asian Banker xếp hạng 138/500 ngân hàng hàng đầu khu vực Châu Á Thái Bình Dương về quy mô tài sản, tăng 96 bậc xếp hạng về chất lượng hoạt động so với công bố vào năm 2020. Agribank xếp hạng cao nhất trong các ngân hàng Việt Nam tại Bảng xếp hạng 500 thương hiệu ngân hàng giá trị lớn nhất toàn cầu theo đánh giá của Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới Brand Finance và Bảng xếp hạng 500 Doanh nghiệp lớp nhất Việt Nam (VNR500).

Văn Tuấn

Đọc thêm

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BIDV (BIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 418 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.357,5 tỷ đồng, tăng 7,6%, với nhiều nghiệp vụ tăng trưởng hai chữ số. Cùng với đà mở rộng kinh doanh, BIC chú trọng chi trả bồi thường kịp thời khi rủi ro xảy ra, với tổng chi bồi thường gốc hơn 1.300 tỷ đồng.
Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

(TBTCO) - Ngày 29/10, Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”, tập trung bàn giải pháp đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Nghệ An 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Thái Bình 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
Trang sức 99.9 13,300 ▼130K 13,900 ▼130K
Trang sức 99.99 13,310 ▼130K 13,910 ▼130K
Vàng 99.9 12,850 ▼50K
Vàng 99.99 13,040 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,384 ▼13K 14,142 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,384 ▼13K 14,143 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 ▼9K 1,383 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 ▼9K 1,384 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 ▼9K 1,373 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 ▼891K 135,941 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 ▲83934K 103,135 ▲92754K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 ▼612K 93,523 ▼612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 ▲66645K 83,911 ▲75465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 ▼525K 80,204 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 ▼43224K 5,741 ▼52044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cập nhật: 30/10/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18476
CAD 17958 18233 18850
CHF 30779 31156 31799
CNY 0 3836 3932
EUR 28272 28488 29571
GBP 33854 34244 35179
HKD 0 3158 3361
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14264 14856
SGD 19661 19942 20514
THB 681 744 798
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/10/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30