Áp lực giảm lãi suất cho vay sẽ kìm đà tăng của biên lãi ròng

Thái Duy
Đợt giảm lãi suất cho vay gần nhất sẽ tạo áp lực lên biên lãi ròng (NIM), do dư địa để cắt giảm chi phí hoạt động là không nhiều và kỳ vọng lãi suất huy động ổn định. NIM vẫn có thể cao hơn trước đại dịch, nhưng thấp hơn mức đỉnh trong giai đoạn quý IV/2020 - II/2021.
aa

Dịch Covid-19 sẽ cản đà tăng của tín dụng trong ngắn hạn

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng trong nửa đầu năm 2021 đạt 5,1%. Đây là con số tích cực hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm 2020 (2,3%), nhưng thấp hơn hẳn so với 6 tháng của nhiều năm trước đó (209: 7,4%; 2018: 7,8%; 2017: 9%,…).

Theo chuyên gia của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tính từ đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã cải thiện với sự hỗ trợ của nền so sánh thấp, với độ dốc trong tăng trưởng nửa đầu năm 2021 gần như tương đương với năm 2019.

Trong khi đó, tăng trưởng huy động cũng theo kịp tốc độ của năm ngoái. Chênh lệch tăng trưởng tín dụng và tiền gửi cũng đạt mức dương kể từ tháng 5 năm 2021. Trước đó, VDSC đã dự báo, nền tảng thanh khoản tốt đủ tạo ra chênh lệch tăng trưởng tín dụng - huy động dương kéo dài trong 1 - 1,5 năm. Do vậy, “chúng tôi không cho rằng chênh lệch hiện tại phản ánh sự thiếu hụt thanh khoản” – chuyên gia của VDSC cho hay.

NIM

Cũng theo chuyên gia của VDSC, do dịch Covid-19 bùng phát, nhiều biện pháp giãn cách đã được áp dụng. Một số ngân hàng lo ngại về rủi ro tín dụng gia tăng ở phía khách hàng, và kỳ vọng tình hình này sẽ duy trì trong quý III/2021. Tuy nhiên, một số ngân hàng vẫn công bố lợi nhuận tăng trưởng mạnh và hoạt động ổn định trong buổi họp nhằm kêu gọi giảm lãi suất mới đây.

Do vậy, “chúng tôi nghĩ ảnh hưởng của dịch là không đồng đều. Nói cách khác, có thể có tác động “kiểu chữ K”: các thành phần kinh tế bị ảnh hưởng với thời gian và độ mạnh yếu khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng cầu tín dụng vẫn ổn định ở một số vùng và ngành nghề, mà nguồn lực đang được phân bổ vào. Bất động sản đã là một trong số đó, dù đã có lo ngại về việc đầu cơ” – chuyên gia của VDSC cho hay.

Theo thông tin từ VDSC, trong quý III, khảo sát cho thấy các ngân hàng thương mại thận trọng về tăng trưởng tín dụng hàng năm vì các diễn biến đại dịch có vẻ phức tạp, trong khi dự báo tăng trưởng huy động không thay đổi so với trước đó. Cuộc khảo sát phản ánh dự báo lần lượt là 11,2% và 9,6% cho tăng trưởng tín dụng và huy động.

Tuy nhiên, chuyên gia của VDSC cho rằng, trừ khi được phê duyệt mở rộng hạn mức tín dụng lần thứ ba, thì tăng trưởng tín dụng có khả năng rơi vào khoảng 9,5 - 10,5% so với đầu năm vào cuối quý III. Hiện tại, nguồn cầu vẫn duy trì tại một số thành phần kinh tế, nhưng các thủ tục giấy tờ đang bị ảnh hưởng, dẫn đến hạn chế trong giải ngân. Trong khi đó, hoạt động gửi tiền vẫn có thể thực hiện online dễ dàng.

Giữ đà tăng cho NIM sẽ khó hơn vì giảm lãi suất

NHNN đã khuyến khích các ngân hàng giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng, tuy nhiên, chỉ có một số ngân hàng đưa ra gói lãi suất ưu đãi mới.

Theo chuyên gia của VDSC, trong năm ngoái, khi đợt giảm lãi suất xảy ra, các ngân hàng thương mại đã tiến hành hạ lãi suất huy động như một công cụ chủ chốt để giữ NIM (biên lãi ròng), duy trì tăng trưởng bảng cân đối và phù hợp lãi suất điều hành mới. Một số tổ chức tài chính, bao gồm các ngân hàng và công ty tài chính tiêu dùng, cũng cắt giảm chi phí hoạt động để đạt được mức hiệu quả khi chi phí tín dụng và NIM chịu nhiều áp lực. Ban đầu, NIM theo năm giảm do chênh lệch trong thời gian tái định giá. Tuy nhiên, ngành Ngân hàng đã sớm chứng kiến NIM tăng mạnh do cơ cấu tiền gửi thay đổi. Điều này dẫn đến việc các ngân hàng niêm yết công bố tăng trưởng lợi nhuận vượt trội từ quý IV/2020 cho đến quý II/2021.

NIM

Ở thời điểm hiện tại, chuyên gia của VDSC cho rằng, diễn biến đang có phần tương tự. NIM theo năm có thể sẽ bị áp lực trong ngắn hạn, khả năng là trong vòng một quý dựa trên kỳ hạn tái định giá của các ngân hàng lớn.

Tuy nhiên, “chúng tôi không cho rằng, chi phí hoạt động có thể giảm xuống mức thấp hơn mà có thể bền vững do chỉ số chi phí trên thu nhập (CIR) của ngành và một số ngân hàng đã giảm rất nhiều, một phần lớn trong đó đến từ việc giảm quy mô nhân sự. Ngoài ra, chúng tôi không kỳ vọng sẽ có sự chuyển dịch trong cơ cấu tiền gửi lần này. Ngược lại, mức độ tăng của chi phí tín dụng có thể không quá đáng kể dựa trên sự hỗ trợ của Thông tư 03/2021/TT-NHNN, tốc độ mở rộng bảng cân đối ở mức trung bình do hạn mức tín dụng được cấp chưa đạt kỳ vọng” – chuyên gia VDSC phân tích thêm.

“Chúng tôi dự báo biên NIM sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn, và sự phục hồi sau khi tái định giá sẽ không đáng kể so với năm ngoái. Nhìn chung, NIM (theo năm) dự kiến vẫn có thể bền vững tại mức cao hơn trước đại dịch, nhưng thấp hơn mức đỉnh trong trong giai đoạn quý IV/2020 tới quý II/2021” – chuyên gia VDSC nhấn mạnh./.

Thái Duy

Thái Duy

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼90K 17,070 ▼90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▲50K 16,050 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▲50K 16,000 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▲50K 17,000 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▲50K 16,950 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▲50K 16,930 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Hà Nội - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Miền Tây - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
NL 99.90 15,570 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▼100K
Trang sức 99.9 16,250 ▼40K 16,950 ▼40K
Trang sức 99.99 16,260 ▼40K 16,960 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,676 ▼9K 17,062 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,676 ▼9K 17,063 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,674 ▼9K 1,704 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,674 ▼9K 1,705 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,654 ▼9K 1,689 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,728 ▼891K 167,228 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,938 ▼675K 126,838 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,113 ▼613K 115,013 ▼613K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,289 ▼549K 103,189 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,729 ▼524K 98,629 ▼524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,688 ▼376K 70,588 ▼376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cập nhật: 27/03/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17624 17897 18473
CAD 18489 18766 19383
CHF 32481 32865 33513
CNY 0 3470 3830
EUR 29761 30034 31064
GBP 34334 34725 35670
HKD 0 3234 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14881 15471
SGD 19950 20232 20758
THB 716 779 833
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26168 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,968 29,992 31,235
JPY 161.1 161.39 170.1
GBP 34,614 34,708 35,697
AUD 17,857 17,922 18,486
CAD 18,724 18,784 19,359
CHF 32,838 32,940 33,695
SGD 20,127 20,190 20,862
CNY - 3,788 3,876
HKD 3,308 3,318 3,435
KRW 16.17 16.86 18.22
THB 765.3 774.75 824.37
NZD 14,898 15,036 15,386
SEK - 2,753 2,834
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,681 2,759
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,164.32 - 6,917.89
TWD 745.62 - 897.71
SAR - 6,924.73 7,249.09
KWD - 83,878 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17762 17862 18784
CAD 18660 18760 19776
CHF 32743 32773 34360
CNY 3752.4 3777.4 3913.2
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29936 29966 31689
GBP 34632 34682 36446
HKD 0 3355 0
JPY 161.63 162.13 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14963 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20110 20240 20961
THB 0 743.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16900000 16900000 17400000
SBJ 15000000 15000000 17400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 23,845 26,218 26,355
AUD 17,826 17,926 19,043
EUR 30,081 30,081 31,508
CAD 18,611 18,711 20,029
SGD 20,187 20,337 21,307
JPY 162.03 163.53 168.18
GBP 34,530 34,880 36,008
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,660 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80