Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS tại Việt Nam cùng KPMG

Bài 1: Tiền lương và phúc lợi cho người lao động trong BCTC sẽ thay đổi như nào?

(TBTCO) - Việc áp dụng IFRS có thể tạo ra không ít những khác biệt ngay trong phạm vi một số nghiệp vụ kinh tế khá cơ bản liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động.
aa
Tin manual

Ông Trần Anh Quân, Partner tại KPMG Việt Nam.

Theo Quyết định 345/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) sẽ được đưa vào áp dụng tự nguyện từ 2022 đến 2025 và áp dụng bắt buộc đối với một số doanh nghiệp sau năm 2025.

Trong giai đoạn nghiên cứu, triển khai IFRS, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với những người chịu trách nhiệm lập và cũng như những người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) là xác định những ảnh hưởng tiềm năng đối với BCTC khi áp dụng IFRS.

Trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp, tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi trả cho người lao động là một trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng, phát sinh thường xuyên và có ảnh hưởng không nhỏ tới BCTC.

Việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam thường phát sinh tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi dưới các hình thức tiền lương; thưởng và phúc lợi ngắn hạn; các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu; trợ cấp thôi việc, và các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.

Ông Trần Anh Quân, Partner tại KPMG Việt Nam, chia sẻ với phóng viên những khác biệt cơ bản giữa BCTC được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam (VAS) hiện hành so với BCTC được lập theo IFRS và những điều doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình triển khai áp dụng IFRS dưới đây.

Tiền lương

Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Theo nguyên tắc chung, tiền lương được ghi nhận vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh (ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được ghi nhận vào giá trị tài sản, ví dụ tài sản cố định và hàng tồn kho).

Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương thì cơ chế này có những đặc điểm khác với cơ chế trả lương theo hợp đồng lao động. VAS không có quy định cụ thể cho cơ chế quỹ lương và việc kế toán thường được thực hiện dựa trên quy định của nhà nước liên quan đến việc lập và sử dụng quỹ lương.

Về cơ bản kế toán tiền lương theo IFRS tương tự như VAS. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương thì các doanh nghiệp này cần xử lý một vài vấn đề sau khi áp dụng IFRS. Thứ nhất là việc tạm ứng và chi vượt quá quỹ lương thực hiện cho kỳ báo cáo dẫn đến phải hoàn trả từ quỹ tiền lương của năm liền kề tiếp theo.

Nếu cơ chế tài chính không cho phép phần chi vượt được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của năm hiện hành thì sẽ tạo ra sự khác biệt về ghi nhận chi phí khi áp dụng IFRS. Theo IFRS, các khoản đã chi vượt quỹ lương thực hiện được xem là chi phí đã phát sinh liên quan đến công việc mà người lao động đã thực hiện và phải tính vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh (dẫn đến giảm lợi nhuận báo cáo), ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được tính vào giá trị tài sản.

Vấn đề thứ hai các doanh nghiệp có tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương cần xử lý là việc lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. IFRS không cho phép lập dự phòng cho các chi phí hoạt động trong tương lai. Do vậy, nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản dự phòng này thì phải điều chỉnh hoàn nhập lại khi áp dụng IFRS (dẫn đến tăng lợi nhuận báo cáo).

Tin manual

Thưởng và phúc lợi ngắn hạn

Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Một số doanh nghiệp có quỹ khen thưởng phúc lợi được lập theo quy chế nội bộ của doanh nghiệp trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp và được sử dụng để thanh toán các khoản chi thưởng, phúc lợi cho người lao động.

Tương tự như tiền lương, thưởng và phúc lợi được ghi nhận vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được tính vào giá trị tài sản. VAS hướng dẫn việc ghi nhận quỹ khen thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhận sau thuế thu nhập doanh nghiệp như một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp. Chi trả cho người lao động từ quỹ khen thưởng phúc lợi được ghi giảm khoản nợ phải trả. Khoản trích vào quỹ khen thưởng phúc lợi do vậy không được phản ánh vào chí phí sản xuất kinh doanh.

Theo IFRS, khi người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp trong kỳ kế toán, các khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn cho người lao động có liên quan đến kỳ kế toán luôn được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng lao động kể cả trong trường hợp chi trả từ quỹ khen thưởng phúc lợi. Khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn liên quan đến thời gian người lao động lao việc trong kỳ kế toán mà chưa thanh toán cho người lao động vào cuối kỳ được ghi nhận là khoản nợ phải trả của doanh nghiệp.

Khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp có lập quỹ khen thưởng phúc lợi cần xử lý hai vấn đề như sau. Thứ nhất là xác định có phải do việc người lao động đã làm việc trong kỳ kế toán làm phát sinh nghĩa vụ hiện tại cho doanh nghiệp phải chi trả khoản khen thưởng, phúc lợi tương ứng với khoản trích quỹ hay không.

Điều này phụ thuộc vào quy chế lập và sử dụng quỹ khen thưởng phúc lợi của doanh nghiệp. Khoản nợ phải trả của doanh nghiệp chỉ được ghi nhận khi nghĩa vụ nêu trên có tồn tại vào cuối kỳ kế toán. Nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản nợ phải trả về quỹ khen thưởng và phúc lợi trong khi nghĩa vụ này chưa tồn tại thì sẽ cần điều chỉnh xóa bỏ khoản phải trả.

Thứ hai, doanh nghiệp cần điều chỉnh việc ghi nhận khoản khen thưởng phúc lợi mà người người lao động được hưởng liên quan đến công việc người lao động đã thực hiện trong kỳ kế toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thay vì việc khấu trừ vào lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến sự sụt giảm tương ứng về lợi nhuận được báo cáo của doanh nghiệp.

Để nắm rõ hơn quy tắc kế toán tiền lương và thưởng theo IFRS, doanh nghiệp cần tìm hiểu kĩ về chuẩn mực IAS 19 — Phúc lợi cho người lao động.

Qua những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS có thể tạo ra không ít những khác biệt ngay trong phạm vi một số nghiệp vụ kinh tế khá cơ bản liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động. Vì vậy, để chuyển đổi thành công sang IFRS, doanh nghiệp cần đánh giá kĩ những ảnh hưởng và lập kế hoạch chuyển đổi ngay từ bây giờ.

Phần tiếp theo của bài viết này sẽ đề cập tới các vấn đề trong việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS liên quan đến các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, trợ cấp thôi việc và các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.

Bài viết tham khảo ý kiến chuyên gia ông Trần Anh Quân – Partner, Dịch vụ Kiểm toán tại KPMG Việt Nam, Trưởng ban chuyên môn Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Phụ trách bộ phận Kiểm toán và Tư vấn Kế toán, ông Quân có chuyên môn sâu về các chuẩn mực kế toán VAS và IFRS, đã và đang cố vấn cho nhiều doanh nghiệp trong các tình huống phức tạp nảy sinh khi chuyển đổi sang IFRS.

Xem thêm các bài phân tích khác về việc áp dụng IFRS tại Việt Nam tại IFRS Academy:

https://home.kpmg/vn/en/home/services/audit/international-financial-reporting-standards/ifrs-academy.html

PV

Đọc thêm

Thúc đẩy hợp tác tài chính toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga

Thúc đẩy hợp tác tài chính toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga

(TBTCO) - Ngày 8/9/2026, tại Moskva, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn đã có buổi hội đàm song phương quan trọng với Bộ trưởng Bộ Tài chính Liên bang Nga Anton Germanovich Siluanov nhằm thúc đẩy hợp tác tài chính toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga.
Việt Nam đạt nhiều tiến bộ trong thực hiện các cam kết về minh bạch thuế

Việt Nam đạt nhiều tiến bộ trong thực hiện các cam kết về minh bạch thuế

(TBTCO) - Việt Nam đã đạt được những tiến bộ tích cực trong thực hiện các cam kết về minh bạch và trao đổi thông tin vì mục đích thuế, đóng góp vào việc xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch, công bằng, ổn định và hội nhập sâu rộng hơn với kinh tế quốc tế.
Infographics: Những điểm sáng kinh tế Việt Nam 8 tháng năm 2026 qua các con số

Infographics: Những điểm sáng kinh tế Việt Nam 8 tháng năm 2026 qua các con số

(TBTCO) - Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. So với cùng kỳ, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,45%; xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 28,7%; vốn đầu tư nước ngoài tăng 55,4%... là những con số nổi bật trong 8 tháng năm 2026.
Nhanh chóng đưa vốn đầu tư công vào guồng tăng trưởng

Nhanh chóng đưa vốn đầu tư công vào guồng tăng trưởng

(TBTCO) - Sau 8 tháng, giải ngân vốn đầu tư công đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên, khối lượng vốn còn phải thực hiện trong những tháng cuối năm vẫn rất lớn. Để giữ được đà tăng tốc, yêu cầu đặt ra là phải xử lý ngay những điểm nghẽn và kịp thời đưa vốn từ nơi chậm hấp thụ sang nơi có khả năng hấp thụ tốt hơn.
Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

(TBTCO) - Cộng đồng doanh nghiệp FDI đề xuất Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế minh bạch, nhất quán; tăng cường đối thoại, hỗ trợ nhà đầu tư hiện hữu và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước để Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Việt Nam - Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác vốn vay ODA trong các lĩnh vực ưu tiên

Việt Nam - Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác vốn vay ODA trong các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, ngày 7-8/9/2026, tại Seoul, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương đã có 2 buổi làm việc với ông Ji Sung Moon, Thứ trưởng Bộ Kinh tế Tài chính Hàn Quốc và ông Junh Hwa Seo, Phó Chủ tịch Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM) nhằm thúc đẩy hợp tác vốn vay ODA Hàn Quốc.
Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

(TBTCO) - Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt trọng tâm vào chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng của FDI, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp châu Âu tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam.
Bộ Tài chính cam kết tiếp tục cải cách, đồng hành cùng doanh nghiệp EU

Bộ Tài chính cam kết tiếp tục cải cách, đồng hành cùng doanh nghiệp EU

(TBTCO) - Bộ Tài chính cam kết tiếp tục cải cách, hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý về đầu tư, tài chính, thuế và hải quan..., cầu thị lắng nghe và đối thoại thực chất với doanh nghiệp; xử lý kịp thời các vướng mắc thuộc thẩm quyền.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều