Bảo đảm quyền lợi, chế độ bảo hiểm xã hội cho lao động nữ

Ngọc Dũng
(TBTCO) - Để người lao động hiểu rõ quyền lợi bảo hiểm xã hội và trách nhiệm của mình, hàng năm, Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội đều phối hợp tổ chức tuyên truyền, tư vấn, đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, người lao động. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp đã hiểu, quan tâm và chăm lo đời sống, quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.
aa

Tư vấn khúc mắc cho lao động nữ

So với lao động nam thì lao động nữ chịu nhiều thiệt thòi hơn khi vừa phải làm việc, vừa chăm lo gia đình, mang thai, sinh con, nuôi con. Do đó, pháp luật về lao động, việc làm và cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn dành ra những điều khoản quy định riêng đối với lao động nữ. Luật Lao động 2019 quy định lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau sinh con 6 tháng, được đảm bảo việc làm sau chế độ thai sản, được hưởng BHXH chế độ thai sản, được đảm bảo việc làm sau thai sản…

Nữ lao động tại Công ty TNHH Canon Việt Nam yên tâm làm việc vì công ty luôn nộp đầy đủ bảo hiểm xã hội. Ảnh: DŨNG NGỌC
Nữ lao động tại Công ty TNHH Canon Việt Nam yên tâm làm việc vì công ty luôn nộp đầy đủ bảo hiểm xã hội. Ảnh: Dũng Ngọc

Đối với Luật BHXH, hiện nay có quy định về chế độ hưởng BHXH trong thời gian nghỉ thai sản. Theo quy định Luật BHXH năm 2014, điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Luật BHXH 2014 cũng quy định: Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 - 10 ngày.

Người lao động nói chung, đặc biệt là lao động nữ, khi tham gia BHXH, ngoài hưởng chế độ ốm đau còn được hưởng chế độ khi con ốm đau. Cụ thể, theo Điều 27 Luật BHXH 2014, thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong 1 năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 3 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi…

Lao động đang trong thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con, theo Luật BHXH năm 2014, thì cần có đủ điều kiện:

Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 4 tháng; phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc, lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định.

Để giúp người lao động, đặc biệt là nữ lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ khi tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), mới đây, BHXH thành phố đã tổ chức hội nghị giao lưu trực tuyến chính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đối với lao động nữ. Chương trình đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân, người lao động, đơn vị sử dụng lao động. Đa số các câu hỏi liên quan đến chế độ ốm đau, thai sản, chăm con ốm, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ… Nhiều nữ lao động, cán bộ làm về BHXH được tư vấn, hướng dẫn, giải đáp cụ thể, rõ ràng, nhờ đó, việc chấp hành pháp luật về BHXH thuận lợi hơn.

Người lao động yên tâm làm việc

Là công ty chuyên về sản xuất hàng hóa, với quy mô hơn 8.000 lao động, 70% lao động là nữ, Công ty TNHH Canon Việt Nam luôn coi trọng, tìm cách đảm bảo tốt nhất về thu nhập cũng như quyền lợi cho người lao động (NLĐ), đặc biệt là lao động nữ, trong đó có quyền lợi về BHXH, BHYT. NLĐ của công ty đều được ký hợp đồng lao động và đóng BHXH, BHYT, BHTN. Hiện mỗi năm công ty chuyển đóng hơn 190 tỷ đồng cho cơ quan BHXH để thực hiện trách nhiệm cho NLĐ. Năm 2022 có 12.000 lượt NLĐ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, BHYT. Quyền lợi về an sinh xã hội được đảm bảo, nên NLĐ rất an tâm làm việc và gắn bó với công ty.

Không phải lao động nữ nào cũng hiểu được quyền lợi của mình

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã quy định rõ, tuy nhiên, không phải lao động nữ nào cũng hiểu được quyền lợi của mình. Do đó, có tình trạng người lao động khi sinh con, do không đủ thời gian tham gia BHXH 6 tháng trở lên nên không được hưởng BHXH, hoặc người nhà nữ lao động khi làm hồ sơ hưởng thai sản mới “tá hỏa” khi cơ quan công tác nợ BHXH, phải quay về yêu cầu cơ quan nộp BHXH cho người lao động thì mới được hưởng trợ cấp thai sản.

Là người gắn bó với công ty hơn 10 năm, chị Nguyễn Thị Dung, nhân viên phòng lắp ráp cho biết: “Ban giám đốc công ty rất coi trọng bảo đảm quyền lợi, cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ. Đặc biệt, các chế độ như lương, BHXH, BHYT, BHTN luôn được công ty thực hiện rất nghiêm túc, nên NLĐ rất an tâm. Tôi đã sinh con, thủ tục thai sản được công ty phối hợp với cơ quan BHXH giải quyết nhanh chóng, nên trong thời gian nghỉ thai sản, tôi có nguồn tài chính để nuôi con và an dưỡng”.

Bà Đào Thị Thu Huyền - Phó giám đốc Bộ phận Đối ngoại và Trách nhiệm xã hội cho biết, trong thực hiện, tuân thủ chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, công ty luôn nhận được hỗ trợ nhiệt tình và rất kịp thời từ phía BHXH TP. Hà Nội trong xử lý các tình huống liên quan chính sách BHXH, BHYT cho doanh nghiệp.

“Sự hỗ trợ kịp thời từ phía cơ quan BHXH đã giúp giải quyết các chế độ cho NLĐ được rốt ráo, kịp thời và chu đáo; chính sách BHXH, BHYT, BHTN là những yếu tố rất quan trọng, góp phần đảm bảo quan hệ lao động trong công ty được ổn định, hài hòa” - bà Huyền khẳng định.

Cũng theo bà Huyền, cơ quan BHXH đã có nhiều chính sách hỗ trợ NLĐ và chủ sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ BHTN. Đây là một sự hỗ trợ rất có ý nghĩa, kịp thời, đã giúp ích cho doanh nghiệp rất nhiều. Phía doanh nghiệp đã được hỗ trợ giảm mức đóng và tiết kiệm được nhiều chi phí.

Đề xuất nâng mức trợ cấp hưu trí xã hội lên 500.000 đồng/người/tháng

Tại dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), cơ quan soạn thảo đã bổ sung Chương III về trợ cấp hưu trí xã hội, trong đó quy định: Công dân Việt Nam từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, không có trợ cấp BHXH hàng tháng khác thì sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội do ngân sách nhà nước đảm bảo. Mức trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp BHXH được nâng từ 360.000 đồng/người/tháng hiện hành lên 500.000 đồng/người/tháng.

Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng được cấp thẻ BHYT theo quy định của pháp luật BHYT. Người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội chết thì người lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng với mức 10 triệu đồng. Chính phủ quy định việc điều chỉnh mức trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng và trợ cấp mai táng trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước.

Đánh giá tác động của việc sửa đổi Luật BHXH lần này, cơ quan soạn thảo cho rằng, theo đề xuất trong dự thảo, mức trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, không có trợ cấp BHXH được nâng từ

360.000 đồng/người/tháng lên 500.000 đồng/người/tháng, thì khoản kinh phí phát sinh thêm ước tính khoảng hơn 2,2 nghìn tỷ đồng/năm. Số này chưa bao gồm kinh phí phát sinh khi mua thẻ BHYT, việc gia tăng đối tượng thuộc diện được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hàng năm, việc điều chỉnh mức hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trong trường hợp thực hiện điều chỉnh như đối với việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng như hiện hành.

Cũng tại dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), cơ quan soạn thảo đề xuất, đối với người đủ 60 tuổi trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội mà có thời gian đóng BHXH, nếu có nguyện vọng thì sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng trong khoảng thời gian trước khi đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Mức trợ cấp bằng 500.000 đồng/tháng.

Ngọc Dũng

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 17,490
Kim TT/AVPL 17,200 17,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 17,490
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 174,900
Hà Nội - PNJ 171,900 174,900
Đà Nẵng - PNJ 171,900 174,900
Miền Tây - PNJ 171,900 174,900
Tây Nguyên - PNJ 171,900 174,900
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 174,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 17,490
Miếng SJC Nghệ An 17,190 17,490
Miếng SJC Thái Bình 17,190 17,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 17,470
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 17,360
Trang sức 99.99 16,670 17,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 17,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 17,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 1,747
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 1,748
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 1,732
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 171,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 130,063
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 117,938
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 105,813
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 101,136
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 72,382
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cập nhật: 01/04/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80