Bối cảnh tài chính khác nhau giữa 2 thời điểm bán tín phiếu

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang tiếp tục thực hiện liên tiếp các phiên đấu thầu bán tín phiếu, kéo dài hơn 1 tuần qua. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư liên tưởng đến đợt bán tín phiếu tháng 9/2023, cùng với đó cũng là giai đoạn “rơi tự do” của thị trường chứng khoán.
aa
Bối cảnh tài chính khác nhau giữa 2 thời điểm bán tín phiếu
trong 2 tháng đầu năm, lượng tiền gửi ở các ngân hàng vẫn rất lớn. Ảnh tư liệu

Nỗi ám ảnh chưa dễ quên

Cách đây nửa năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện một đợt bán tín phiếu trên thị trường mở, với thời gian kéo dài khoảng 1,5 tháng. Đánh giá về động thái hút tiền của NHNN thời điểm đó, ông Nguyễn Đắc Toại - chuyên viên tư vấn thuộc Công ty chứng khoán SSI cho biết, đó là quyết định kịp thời của NHNN để giảm thiểu đầu cơ tỷ giá trong hệ thống ngân hàng.

Tại thời điểm NHNN thực hiện đợt bán tín phiếu, tỷ giá VND/USD đã có một số biến động tăng. Tỷ giá trung tâm do NHNN công bố và tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại đều vượt qua mốc 24.000 VND/USD. Áp lực tỷ giá tại thời điểm đó cũng khá lớn, do chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD leo rất cao, có lúc đã vượt mốc 107 điểm. Mặt bằng giá USD trên thị trường quốc tế khi đó cao hơn khá nhiều so với mốc khoảng 103 - 104 điểm hồi tháng 5/2023 hoặc thậm có lúc chỉ khoảng 100 điểm hồi tháng 7/2023.

Đối với thị trường chứng khoán, giai đoạn NHNN hút tiền trên thị trường mở hồi tháng 9 và tháng 10/2023 có thể là một nỗi ám ảnh khó quên, khi thị trường chứng kiến những phiên “rơi tự do”. Chỉ số VN-Index rơi một mạch từ mốc 1.250 điểm hồi đầu tháng 9/2023 xuống dưới 1.230 điểm vào cuối tháng 10/2023.

Thời điểm đó có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau để lý giải cho việc tuột dốc của thị trường. Tại diễn đàn F319, nơi thu hút khá nhiều nhà đầu tư chứng khoán tham gia, một nhà đầu tư tạo chủ đề khơi ra vấn đề cho biết, Thông tư 06/2023/TT-NHNN về hoạt động cho vay đã hạn chế việc các công ty chứng khoán tiếp cận vốn vay và sẽ càng làm thị trường khó khăn hơn.

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Phùng Trung Kiên - Giám đốc Trung tâm Phân tích của Công ty chứng khoán AIS, nhận định trên cũng chưa có căn cứ và thực tế trước việc thị trường đi xuống, mọi người vẫn thường cố gắng tìm một lý do gì đó để giải thích cho hiện tượng giảm điểm đó.

Bên cạnh đó, một trong những lý do khác được một số nhà đầu tư lý giải là sự ảnh hưởng bởi động thái hút tiền của NHNN, cơ sở của luận điểm này cho rằng, NHNN hút tiền đồng nghĩa làm giảm cung tiền và theo quy luật cung tiền giảm thường sẽ làm giá chứng khoán giảm theo.

Bối cảnh khác nhau giữa 2 giai đoạn

Thời điểm hiện nay, NHNN lại thực hiện một đợt hút tiền mới trên thị trường mở và theo đó, giới chứng khoán cũng lại có lý do để liên tưởng đến những diễn biến đã từng xảy ra trong quá khứ trên thị trường chứng khoán.

Đợt hút tiền lần này của NHNN bắt đầu tư hôm 11/3 với lượng tín phiếu bán ra là gần 15 nghìn tỷ đồng. Liên tục từ hôm đó đến nay, NHNN đều thực hiện các đợt đấu thầu và lượng tín phiếu được phát hành cũng đều khoảng gần 15 nghìn tỷ đồng mỗi năm với thời hạn tín phiếu là 28 ngày.

Từ hôm NHNN hút tiền, thị trường chứng khoán cũng chứng kiến những phiên giảm điểm mạnh. Ví dụ như ngay trong phiên 11/3, tức phiên đầu tiên NHNN bán tín phiếu, chỉ số VN-Index đã giảm hơn 11 điểm, ngoài ra trong phiên 18/3, chỉ số VN-Index cũng tuột dốc mất hơn 20 điểm.

Bối cảnh tài chính khác nhau giữa 2 thời điểm bán tín phiếu

Mặc dù vậy, thời gian gần đây giới phân tích cũng đưa nhiều bình luận cho rằng, đúng là việc hút tiền của NHNN trên thị trường là động thái làm giảm cung tiền, nhưng bối cảnh hiện tại và bối cảnh thời điểm nửa năm trước cũng có nhiều yếu tố khác nhau.

Đưa ra quan điểm của mình về vấn đề trên, bà Phan Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Khối tư vấn đầu tư thuộc Công ty chứng khoán VPBank cho biết, thực chất tín phiếu không phải là vấn đề lo lắng với thị trường chứng khoán thời điểm này.

Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm với thị trường là động thái của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED). Các dự báo trước thời điểm chỉ số CPI tháng 2 của Mỹ được công bố cho thấy FED có thể hạ lãi suất vào tháng 6/2023. Tuy nhiên, chỉ số CPI của Mỹ sau khi được công bố thì nhiều nhà đầu tư đã có phần lo lắng hơn về khả năng FED sẽ lùi thời điểm hạ lãi suất chậm hơn nữa.

Trong khi đó, một số ý kiến cũng cho rằng, đợt hút tiền của NHNN lần này trong bối cảnh chỉ là hút bớt tiền đang quá dư thừa tại các ngân hàng thương mại nên ảnh hưởng của đến cung tiền chung cũng sẽ không quá lớn.

Bởi lẽ trong 2 tháng đầu năm, lượng tiền gửi ở các ngân hàng vẫn rất lớn, trong khi tín dụng 2 tháng đầu năm tăng trưởng âm 0,72% so với cuối năm 2023. Do đó, việc NHNN bán tín phiếu là một cách để các ngân hàng đang thừa tiền có thêm thu nhập thay vì để không, nhưng vẫn phải trả chi phí vốn cho người gửi tiền.

Thị trường thời điểm hiện tại có nhiều thông tin hỗ trợ hơn

Bối cảnh tài chính khác nhau giữa 2 thời điểm bán tín phiếu

Thị trường hiện tại đang có nhiều yếu tố hỗ trợ hơn so với thời điểm NHNN có động thái tương tự vào năm ngoái liên quan đến việc bán tín phiếu. Đó là hiện nay triển vọng phục hồi kinh tế rõ rệt hơn, bức tranh kết quả kinh doanh quý I dự kiến tích cực và là bệ đỡ cho thị trường (trái ngược hoàn toàn với bức tranh quý III năm ngoái).

Yếu tố nữa là dòng tiền trong nước đang khá mạnh, được hậu thuẫn bởi môi trường lãi suất thấp và tâm lý kỳ vọng vào câu chuyện nâng hạng thị trường. Nhà đầu tư có thể tiếp tục duy trì nắm giữ cổ phiếu, ưu tiên phân bổ vào những nhóm cổ phiếu đang có yếu tố cơ bản hỗ trợ như nhóm cổ phiếu chứng khoán, tiêu dùng, xuất khẩu, bất động sản khu công nghiệp.

Ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Khối Phân tích Công ty chứng khoán VNDirect.

Chí Tín

Đọc thêm

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80