PV: Bà đánh giá thế nào về những điểm sáng của kinh tế Việt Nam 2 tháng đầu năm 2026?
![]() |
| ThS. Lê Thị Mai Liên |
ThS. Lê Thị Mai Liên: Trong 2 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, thể hiện ở một số điểm sáng nổi bật. Cụ thể, hoạt động xuất, nhập khẩu có sự phục hồi mạnh, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt hơn 76,3 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy, nhu cầu từ các thị trường lớn tiếp tục cải thiện và năng lực sản xuất của doanh nghiệp đang phục hồi khá tốt.
Đồng thời, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký mới trong 2 tháng đầu năm đạt khoảng 3,54 tỷ USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện đạt khoảng 3,21 tỷ USD tăng 8,8%, mức cao nhất của 2 tháng đầu năm trong vòng 5 năm gần đây. Sản xuất công nghiệp khởi sắc, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng khoảng 10% so với cùng kỳ; trong đó, lĩnh vực chế biến chế tạo tăng trên 11%, tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 2 đạt 54,3 điểm, cao hơn 1,8 điểm so với tháng 1/2026 và là tháng thứ 8 liên tiếp đạt trên 50 điểm; số lượng đơn hàng mới tăng trưởng tích cực, niềm tin kinh doanh tăng cao; sản xuất công nghiệp tăng ở tất cả 34/34 địa phương…
Có thể nói, những kết quả tích cực ngay từ đầu năm đang tạo nền tảng thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2026.
PV: Theo bà, các chính sách tài khóa và tiền tệ cần được điều hành như thế nào để vừa hỗ trợ hiệu quả tăng trưởng, vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tới?
ThS. Lê Thị Mai Liên: Theo tôi, trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có nhiều biến động, khó lường hiện nay, việc điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam cần theo hướng phối hợp chặt chẽ, linh hoạt nhưng thận trọng nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định vĩ mô.
Cụ thể, chính sách tài khóa cần tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng. Trong đó, cần đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng chiến lược như giao thông, năng lượng và chuyển đổi số. Đồng thời, tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các giải pháp như giãn, hoãn hoặc giảm một số loại thuế, phí trong thời gian nhất định đối với những lĩnh vực chịu nhiều áp lực chi phí.
Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt và thận trọng, bảo đảm ổn định lãi suất, tỷ giá và kiểm soát được lạm phát. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục điều tiết thanh khoản hợp lý, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực có tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa hai chính sách tài khóa và tiền tệ. Khi chính sách tài khóa mở rộng để thúc đẩy tăng trưởng, chính sách tiền tệ cần hỗ trợ ở mức phù hợp để tránh gây áp lực lên lạm phát hoặc tỷ giá. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách này sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả chính sách và giảm thiểu rủi ro mất ổn định kinh tế vĩ mô.
Do vậy, trong giai đoạn tới, mục tiêu quan trọng của Việt Nam là duy trì sự cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát rủi ro vĩ mô, tạo nền tảng ổn định cho phát triển kinh tế bền vững.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Để tạo đà tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu đề ra, theo bà, cần chú trọng những động lực nào?
ThS. Lê Thị Mai Liên: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua duy trì ở mức khá cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Năm 2024, GDP của Việt Nam tăng khoảng 7,09%, năm 2025 là 8,02%, cho thấy sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ sau các cú sốc kinh tế toàn cầu. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực.
Đạt được kết quả tích cực trên là nhờ những động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng và những động lực tăng trưởng mới như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ cao, phát triển nhân lực chất lượng cao…
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn phụ thuộc khá lớn vào xuất khẩu và thị trường bên ngoài, khiến nền kinh tế dễ bị tác động bởi biến động của kinh tế thế giới, thương mại và địa chính trị. Do đó, theo tôi, để tạo được đà tăng trưởng kinh tế và đạt mục tiêu đã đề ra, cần tập trung vào một số động lực tăng trưởng sau:
Thứ nhất, động lực tăng trưởng từ thể chế đóng vai trò tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Các quy định pháp luật rõ ràng, ổn định và phù hợp với kinh tế thị trường giúp giải phóng nguồn lực, khuyến khích đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư, đặc biệt là đầu tư công vào hạ tầng chiến lược như giao thông, năng lượng và hạ tầng số. Khi hạ tầng được cải thiện, chi phí sản xuất, logistics giảm, từ đó kích thích hoạt động của doanh nghiệp và thu hút thêm đầu tư tư nhân.
Thứ ba, thúc đẩy khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân trên cơ sở cải cách mạnh mẽ hơn nữa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường thuận lợi hơn.
Thứ tư, tăng cường xuất khẩu và mở rộng thị trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần.
Thứ năm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là động lực tăng trưởng mới, giúp nâng cao năng suất lao động, tạo ra các mô hình kinh doanh mới và gia tăng giá trị cho nền kinh tế.
Cuối cùng, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bởi con người vẫn là yếu tố quyết định cho tăng trưởng bền vững. Vì vậy, cần chú trọng đào tạo kỹ năng, nâng cao chất lượng lao động để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
PV: Xin cảm ơn bà!
Xung đột Trung Đông kéo dài, gây áp lực chi phí và lạm phátTheo ThS. Lê Thị Mai Liên, Trung Đông là khu vực cung cấp dầu mỏ lớn của thế giới, vì vậy, nếu xung đột leo thang hoặc lan rộng, sẽ ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Theo đó, giá năng lượng tăng cao do nguồn cung năng lượng toàn cầu có thể bị gián đoạn. Điều này sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam, từ đó, đẩy chi phí sản xuất, vận tải và logistics tăng lên, gây áp lực lên lạm phát. Căng thẳng quân sự khiến nhiều tuyến vận tải biển và hàng không phải thay đổi lộ trình, kéo dài thời gian vận chuyển, làm tăng chi phí logistics. Điều này có thể ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt với các ngành phụ thuộc nhiều vào vận tải quốc tế. Ngoài ra, áp lực lạm phát và tỷ giá có thể gia tăng. Khi giá dầu và nguyên liệu đầu vào tăng, chi phí sản xuất trong nước sẽ bị đẩy lên, tạo áp lực lên mặt bằng giá. Đồng thời, biến động trên thị trường tài chính quốc tế có thể tác động tới dòng vốn và tỷ giá, khiến việc điều hành kinh tế vĩ mô trở nên thận trọng hơn. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, mức độ tác động trực tiếp đến Việt Nam không quá lớn, bởi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Trung Đông còn hạn chế. Về dài hạn, sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư toàn cầu trong bối cảnh bất ổn địa chính trị có thể mở ra cơ hội thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất cho Việt Nam khi mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác. |



