Chịu sức ép rủi ro, ngân hàng tăng huy động trái phiếu kỳ hạn dài

Chí Tín
(TBTCO) - Nợ xấu vẫn đang có xu hướng tăng, đặc biệt nguy cơ nợ xấu các lĩnh vực có khả năng chôn vốn lâu như bất động sản vẫn là một trong yếu tố đang “nhắc nhở” các ngân hàng về kiểm soát rủi ro, nhất là với các khoản tín dụng dài hạn. Theo đó, nhiều ngân hàng vẫn đang tìm cách tăng vốn dài hạn bằng hình thức phát hành trái phiếu kỳ hạn dài.
aa
Chịu sức ép rủi ro, ngân hàng tăng huy động trái phiếu kỳ hạn dài
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung

Rục rịch nhiều đợt phát hành trái phiếu

Các thông tin về phát hành trái phiếu của các ngân hàng đang dần diễn ra khá nhiều trong thời gian gần đây.

Agribank là một trong những đại gia ngân hàng đang thực hiện một đợt phát hành quy mô lên tới 10.000 tỷ đồng. Đây là đợt phát hành ra công chúng, kỳ hạn 8 năm và lãi suất theo lãi suất tham chiếu cộng biên độ 2%/năm. Lãi suất tham chiếu là lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng trả cuối kỳ bình quân của các ngân hàng trong nhóm Big 4 (BIDV, Vietcombank, VietinBank và Agribank) tại ngày xác định lãi suất.

Trước đó trong tháng 10/2023, một số ngân hàng khác cũng thực hiện các đợt phát hành trái phiếu với kỳ hạn dài. Cụ thể, Ngân hàng MB đã thực hiện 2 đợt phát hành trong tháng này đều với kỳ hạn 7 năm, tổng giá trị cả 2 đợt là 550 tỷ đồng. Mức lãi suất cao nhất được MB trả cho nhà đầu tư là lãi suất tham chiếu cộng với 2,5%/năm, trong đó lãi suất tham chiếu cũng là lãi suất 12 tháng của nhóm Big 4.

Trong khi đó, Ngân hàng Bắc Á cũng đã thực hiện đợt phát hành 100 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 năm, với lãi suất 2,8%/năm cộng lãi suất tham chiếu, để mở cho trường hợp nếu đến ngày mua lại trái phiếu mà tổ chức phát hành không mua lại thì lãi suất sẽ nâng lên mức bằng tham chiếu cộng 3,8%/năm. Ngoài ra, một số ngân hàng khác như: Á Châu, An Bình, Quốc tế… cũng đã có các đợt phát hành trái phiếu với kỳ hạn từ 2 - 3 năm.

Động thái gia tăng các hoạt động phát hành trái phiếu của các ngân hàng đặt trong bối cảnh sức ép tăng vốn trung và dài hạn vẫn đang gia tăng. Cụ thể, từ tháng 10/2023, các ngân hàng phải tuân thủ quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tối đa là 30%, thay vì 34% như trước đây. Đây là nội dung thực hiện theo lộ trình tại Thông tư 08/2020/TT-NHNN.

Bài toán vốn cho bất động sản

“Nóng” trái phiếu bất động sản và lo ngại “bong bóng” tài sản - Ảnh 2.

Nhu cầu về vốn cho vay trung và dài hạn chủ yếu liên quan đến việc phục vụ các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, dự án công nghiệp… Đặc biệt, bất động sản cũng là lĩnh vực đang trông đợi nhiều từ nguồn vốn ngân hàng ở cả 2 góc độ vốn cho dự án kinh doanh và vốn cho tiêu dùng bất động sản.

Mới đây, Văn phòng Chính phủ vừa có Công văn số 9208/VPCP-CN ngày 23/11/2023 gửi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Xây dựng về chính sách phát triển nhà ở xã hội. Theo công văn này, NHNN chủ trì, phối hợp Bộ Xây dựng khẩn trương báo cáo về kết quả triển khai thực hiện Chương trình tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, các doanh nghiệp bất động sản cũng vẫn tỏ ra khá “nóng lòng” chờ đợi các giải pháp tiếp theo về vốn cho lĩnh vực này. Vừa qua, Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA) đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và NHNN về việc báo cáo thị trường bất động sản 10 tháng năm 2023 và đề xuất một số giải pháp về tín dụng để triển khai thực hiện hiệu quả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là Công điện số 993/CĐ-TTg ngày 24/10/2023. Theo đó, ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA, đại diện các doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị NHNN xem xét “nới” một chút các điều kiện vay vốn, mở rộng hơn các đối tượng được vay gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng…

Những nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp bất động sản theo đó tiếp tục đang là yếu tố làm gia tăng áp lực về nhu cầu vốn trung và dài hạn đối với các ngân hàng. Đặc biệt, việc cho vay lĩnh vực này vẫn phải trên cơ sở kiểm soát rủi ro nợ xấu khi tỷ lệ nợ xấu lĩnh vực này đã có diễn biến gia tăng trong thời gian qua.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN cho biết, tình hình nền kinh tế còn nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như thu nhập của người dân đều bị ảnh hưởng, dẫn tới chất lượng tín dụng bất động sản cũng tiềm ẩn những rủi ro cần chú ý. Tỷ lệ nợ xấu tín dụng bất động sản đến tháng 9/2023 (2,89%) đã tăng so với thời điểm 31/12/2022 (1,72%).

Cơ cấu tín dụng với lĩnh vực bất động sản

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến 30/9/2023, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của các tổ chức tín dụng đạt 2,74 triệu tỷ đồng, tăng 6,04% so với 31/12/2022, chiếm tỷ trọng 21,46% tổng dư nợ đối với nền kinh tế.

Trong đó tín dụng bất động sản tập trung vào mục đích tiêu dùng/tự sử dụng chiếm 64% và dư nợ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng 36% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản. Trong 9 tháng năm 2023, tín dụng kinh doanh bất động sản tăng nhanh hơn so với các năm trước, nhưng tín dụng tiêu dùng bất động sản giảm.

Chí Tín

Đọc thêm

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 167,000
Hà Nội - PNJ 164,000 167,000
Đà Nẵng - PNJ 164,000 167,000
Miền Tây - PNJ 164,000 167,000
Tây Nguyên - PNJ 164,000 167,000
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 167,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 08/05/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19420
CAD 18776 19054 19668
CHF 33175 33561 34211
CNY 0 3827 3919
EUR 30329 30603 31631
GBP 35021 35415 36349
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15416 16004
SGD 20238 20522 21050
THB 733 797 850
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26214 26214 26368
AUD 18738 18838 19766
CAD 18956 19056 20071
CHF 33425 33455 35038
CNY 3807.2 3832.2 3967.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30520 30550 32275
GBP 35324 35374 37131
HKD 0 3355 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15513 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20397 20527 21255
THB 0 762.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80